Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
22.469 tác phẩm
2.580 tác giả
133
76.518.299
 
Bút ký triết học số 06
Nguyễn Văn Thượng

 

Trong quyển sách tiểu thuyết lịch sử triết học của Jostein Gaarder “Thế giới của Sophie”, tác giả đã trả lời vấn đề mà mọi người đều cần phải quan tâm này bằng sự khẳng định của các triết gia: “Con người không chỉ sống bằng lương thực. Mọi người đương nhiên cần đến chúng. Lại nữa  tình yêu và lòng đôn hậu cũng thiết yếu vậy. Nhưng trong cuộc đời cần hơn những mảng thiết yếu đó, rất cần, đó là tự vấn và trả lời được: chúng ta là ai và tại sao chúng ta sống?”. Hạnh phúc khi được là chính mình, biết mình và sống theo ý mình, dĩ nhiên là loại trừ khả năng thác loạn và lối sống hai mặt bệnh hoạn. Trong khi phấn chấn, thành không, ít có người nào ngồi lại ngẫm nghĩ: “tôi là ai? Tại sao tôi có mặt trên cõi đời này? Điều gì quan trọng nhất trong cuộc sống tôi?”. Mải miết làm việc, bận rộn trách nhiệm, mê đắm vào bao cuộc vui đôi khi khiến ta quên luôn mục đích sống của mình và thái độ tự thân đi tìm hạnh phúc thật sự. Nếu mục đích sống của  tôi là sự giàu có thì tiền bạc là quan trọng nhất, nếu niềm vui của tôi là những cô gái xinh xắn dễ thương thì tôi sẽ chìm ngập trong sắc dục, nếu mục đích sống của tôi là thành đạt, địa vị, tôi sẽ miệt mài học tập và nắm lấy mọi cơ hội, vì có được một địa vị cao trong cuộc sống thì sự thăng tiến trong sự nghiệp là điều quan trọng nhất. Thứ hạnh phúc thật sự có phải là sự hài lòng, thoả dạ mong chờ nơi những sự kiện trên đời mà ta đặt mục tiêu phấn đấu cho mình? Vậy khi tuổi già đếnm sức khoẻ suy kiệt, lâm cảnh bần hàn, hoá ra những đối tượng ấy là không hạnh phúc?

 

Thông thường, ta hay nhẫm lẫn cảm giác tuyệt vời của hạnh phúc và sự phấn chấn là hạnh phúc. Hạnh phúc thật sự có thể được phản ảnh qua dữ kiện tâm thần tuy nhiên đắc hữu hạnh phúc không phải lèo lái thần kinh bằng ảo giác, á phiến hay loại thuốc kích thích nào đó cũng tác động cơ học thể lý. Tác giả Gérard de Nerval (1808-1855), người được biết đến như người bị chứng tâm thần phân liệt và tình trạng tâm thần định kỳ đã mô tả thế này: “Tôi đã cảm giác như thể tôi đã biết mọi sự và mọi sự đã tỏ hiện với tôi, tất cả những bí mật của thế giới tôi đã hiểu trong những giờ phút hạnh phúc”. Hạnh phúc không chỉ đơn thuần là những cảm giác biết mọi sự, yên trí mình biết mọi sự. Tất nhiên niềm vui của sự hiểu biết rất đáng trân trọng nếu không bị truy bởi ảo giác. Triết gia Công giáo Karl Jaspers (1883-1969) kể rằng, một lần có ai đó nói với ông: “Tôi thức dậy vào một buổi sáng với cảm giác tuyệt vời của việc được tái sinh. Niềm hạnh phúc thần linh ấy tôi đã cảm nhận được, cái cảm giác tràn ngập của sự hiện diện tự do đối với mọi sự thì thật là nhỏ nhoi.” Đó cũng chỉ là cảm nhận, với tới nhưng chưa thật sự là hạnh phúc bền vững. Dữ kiện hôm qua và hôm nay thay đổi nhiều, tâm trạng cũng không luôn tốt, vậy hạnh phúc nếu chỉ là sự hài lòng với dữ kiện có điều kiện thì hoá ra rất mơ hồ và yếu ớt.

 

Một bộ phận thanh niên nghiện ma túy hoặc nghiện rượu, hoặc bất cứ thứ gây nghiện nào khác cũng tìm thấy cảm giác đê mê, thần kinh kích động hưng phấn dữ dội nhưng tuyệt đối không phải là hạnh phúc. Khi dùng những chất gây nghiện này, có thể chúng ta có được cảm giác cực kỳ phấn khích, nhưng điều này nhanh chóng qua đi. Sự mất mát đi kèm với trí phán đoán và trí năng sắc bén thường kết thúc trong sự trầm cảm, tha hoá tâm thần. Quyến rũ của danh vị - sắc đẹp - thành tựu và sự hưng phấn ảo giác của á phiến chỉ là hạnh phúc ảo, ảo tưởng phù du của sự thỏa mãn tạm qua, nhất thời. Lại bởi, hạnh phúc giả tạo có thể đạt được một cách nhanh chóng theo sau đó là một cảm giác trống rỗng kiểm soát, thậm chí hậu quả bi thảm đi kèm.

 

 

Hạnh phúc không xuất phát từ của cải và danh tiếng. Tất cả cúi mình trước sự giàu có mà không bao giờ có thể tìm được hạnh phúc thật sự bền lâu nơi vật chất. Theo bản năng, ai ai cũng tỏ lòng kính trọng của cải, tôn xưng kẻ lắm của thừa tiền. Hệ số đo lường hạnh phúc trần gian thường bằng của cải và sự an toàn tích trữ; và hình thái xã hội nào cũng đánh giá việc tôn trọng tư cách bằng của cải, khuyến khích làm ra của cải hơn là tạo lập hạnh phúc thật sự dựa trên những giá trị nhân văn, tâm linh. Không biết từ bao giờ, nhân thế có niềm tin sâu xa rằng với của cải, ta có thể làm mọi việc, Tiền bạc là quyền năng xã hội, là nhân cách xã hội và thước đo thành công xã hội. Hạnh phúc, tôi cho rằng không hệ tại loại triết lý vật chất thông dụng hiện đại: “nhiều, nhiều hơn nữa”- như tiền bạc nhiều hơn, thoải mái hơn, tự do tình dục hơn, kích động nhiều hơn hoặc ngay cả nhiều kinh nghiệm thống trị. Lòng tham vọng tạo cho con người cảm giác thiếu thốn và có nhu cầu bất tận. Người ta kêu gào tiêu thụ, tiêu thụ nữa, cánh kinh doanh than phiền khủng hoảng là do ít mua sắm, ít xài tiền. Thực hành theo loại triết lý này, trên thực tế luôn tạo nên bất hạnh. Triết lý “kiếm tìm nữa, xài nhiều hơn nữa”, “làm tới nơi, chơi tới bến, xài tới hết” lại luôn luôn không thể làm hài lòng tất cả. Người ta như đang khát trong sa mạc “uôn luôn muốn có nhiều hơn nữa, luôn luôn thấy thiếu thốn, luôn luôn có nhu cầu cạnh tranh”. Muốn kỳ nghỉ đắt đỏ, muốn ngôi nhà đẹp, một xe hơi sang trọng, một người phối ngẫu hoàn hảo. Cam đoan, kẻ có được tất cả những điều đó sẽ nói ra không chút ấp úng về niềm hạnh phúc ấy “không phải là hạnh phúc thật”. Thậm chí, kém hơn niềm vui của bà mẹ nghèo quét đường với điểm mười mới trong tập cô con gái nhỏ cấp 1 của bà.

 

Tất nhiên, hạnh phúc rất cần cho con người, là chất xúc tác cho cuộc sống lành mạnh. Người ta sẽ phấn chấn, hoạt động hiệu quả hơn khi thấy những nhu cầu của mình được đáp ứng đầy đủ và cảm thấy hài lòng với cuộc sống. Song, khi tìm thấy giá trị của mình, tìm thấy hạnh phúc thật sự là động lực hoàn thiện nhân cách và các khả năng cá nhân.  Nhìn sâu hơn vào tâm hồn, sẽ thấy mỗi nơi chính mình nhiều những lúc như thế. Công tâm nhìn nhận trên số đông, việc tiêu dùng ngày càng tăng thì nhu cầu cá nhân được thỏa mãn, dường như chỉ số hạnh phúc đã đồng thời gia tăng qua các nghiên cứu xã hội học. Tuy nhiên, đàng sau những kẻ sang trọng, phía sau những toà nhà đầy đủ tiện nghi, những con người lịch lãm, sang trọng, hớn hở là sự thật về chỉ thất vọng dường như đã tăng lên và ở mức độ đáng báo động. Thử nhìn qua một nghiên cứu, cứ mười lăm người Mỹ thì có một người chịu đựng tình trạng trầm cảm nặng. Đây là kết quả của công trình nghiên cứu được tiến hành gần đây do giáo sư Ronald Kessler thuộc Đại Học Y Harvard. Lần nữa, có thể khẳng định: vật chất thừa mứa, vũ khí tối tân, ngân hàng đầy tiền mặt, công nghệ đỉnh cao, sức mua sắm ào ào chưa đổi lấy được hạnh phúc. Những thứ thật sự quan trọng để tạo nên hạnh phúc bền vững thì không được bày bán tại chợ, không thể đổi chác trên hệ thống kiều hối, siêu thị và ngân hàng. Hạnh phúc thì không chỉ có niềm vui, sự ham mê vui thú, hay cảm giác được thỏa mãn. Hạnh phúc dường như nằm bên ngoài những thứ có thể đo lường, đong đếm hay cảm nhận được. Tiền tài vật chất và những biến cố trong cuộc sống theo đúng ý cá nhân cũng không bao giờ có thể được gọi là hạnh phúc đúng chất. Theo thiển nghĩ, hạnh phúc khó nắm bắt, nhưng lại trong tầm tay, khó nhìn thấy, sờ mó nhưng rất dễ bắt lấy. Vì, hạnh phúc phụ thuộc vào việc “tôi là” hơn là “tôi có”. Nếu mỗi người luôn được dạy dỗ những điều này tiệm tiến theo tuổi đời kể từ khi đến lớp đồng ấu, ắt hẳn niềm vui sẽ đến rộng rãi trong xã hội, và chúng ta luôn bắt gặp thường trực nụ cười trên gương mặt người trên phố từ chị lao công quét chợ đến bác giám đốc nhẵn bóng.

 

Hạnh phúc từ nhận thức bản thân không phải cảm giác thỏa mãn thuần túy và nhất thời của người sống trên mây trên gió. Thỏa mãn là cảm nhận bản năng sinh học. Hạnh phúc là cảm nghiệm tâm linh, văn hóa và thẩm mỹ. Những giới hạn thấp của va chạm xác thịt, vật chất và công nghệ làm cho con người thỏa mãn bản năng nhưng không làm cho con người hạnh phúc, bởi vì chỉ cần nhìn lên những giới hạn cao hơn, họ sẽ đau khổ. Thỏa mãn bản năng bằng thói quen phụng sự các giác quan cơ thể chỉ làm tăng nhu cầu xác thể, do đó con người không phát triển tới hạnh phúc thật sự dù bề ngoài họ vượt hẳn số đông. Càng thỏa mãn một cách giản đơn như vậy bao nhiêu thì chỉ xác lập sự chậm phát triển càng rõ rệt bấy nhiêu. Hạnh phúc là năng lực biết thưởng thức và gìn giữ cho bền vững tất cả những gì tạo ra niềm vui chân chính, tiến bộ. Và hành trình tìm kiếm hạnh phúc chính là cuộc trường chinh chiến đấu với nhu cầu xác thể, phá vỡ mọi sự thoả mãn đơn giản.

 

Hạnh phúc không phải là một khái niệm túc thể bản năng, nhưng là một bản thể văn hóa chiều sâu, tiêu chuẩn cho sự đúng đắn của con người trong đời sống. Theo tôi, hạnh phúc chân thật đi từ lẽ phải tâm hồn của mình khi biết chủ động, biết rõ lộ trình sống, lộ trình làm việc, lộ trình cống hiến, lộ trình thưởng thức cách hợp lý tất cả những yếu tố mà cuộc sống đem lại.  Càng biết chịu trách nhiệm trước cuộc đời, càng biết sống hài hoà với môi trường, với tha nhân bao nhiêu, thì cho đến cuối cuộc đời, con người sẽ tìm đến một miền triển vọng mới, đó là hạnh phúc túc linh nơi Thượng Đế. Miền hy vọng lớn nhất và vô tận nhất của con người chính là đạt tới sự hiểu biết mình, biết người và biết mệnh trời. Sống hạnh phúc là cảm nhận bình an từ giây phút hiện tại cho tới trước từ giã cuộc sống một khắc. Niềm tin vào hạnh phúc là niềm tin rằng sẽ đến một miền cao thượng hơn cái miền đã có trong quá khứ, trong hiện tại. Hành trình đi tìm hạnh phúc, sống với hạnh phúc thật sự là con đường mỗi ngày đi vào các miền cao thượng của đời sống con người, tương lai đầy triển vọng và tự do.

 

 

Nguyễn Văn Thượng
Số lần đọc: 129
Ngày đăng: 16.07.2017
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Bút ký triết học số 05 - Nguyễn Văn Thượng
Bút ký triết học số 04 - Nguyễn Văn Thượng
Bút ký triết học số 3 - Nguyễn Văn Thượng
Bút ký triết học số 2 - Nguyễn Văn Thượng
Bút ký triết học số 01 - Nguyễn Văn Thượng
Hư vô qua tư duy triết học - Võ Công Liêm
Albert Camus, 50 năm sau ngày mất (1960-2010). Ông hoàng của triết học Phi lí - Hiếu Tân
Martin Heidegger "Sự thật của hiện hữu" - Võ Công Liêm
Kant "Một lối phê bình triết học" - Võ Công Liêm
Tình yêu triết học - Võ Công Liêm