Kỷ niệm 10 năm vanchuongviet.org
Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
20.081 tác phẩm
2.478 tác giả
452
50.836.918
 
Một số đề văn KHÔNG CHUẨN XÁC
Trần Mạnh Hảo

Ra đề bài tập làm văn cho học sinh làm luận văn trong nhà trường thiết tưởng là điều quan trọng, không thể khinh xuất để thiếu chuẩn mực. Thế mà, lạ thay, trong cuốn "217 ĐỀ VÀ BÀI VĂN" dày 627 trang, do NXB Đại học Quốc gia Hà Nội tái bản với số lượng lớn lại có khá nhiều đề văn thiếu chuẩn mực sư phạm.

 

Đây là công trình của bốn tác giả : GS. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), TS. Đỗ Ngọc Thống, TS. Hà Bình Trị và Chu Văn Sơn. Đề văn do các tác giả này ra, bài văn mẫu cũng do các vị này làm. Trên một số tờ báo, chúng tôi đã viết bài phê bình nhiều bài văn mẫu trong cuốn sách này có nhiều sai sót về nội dung lẫn hình thức, không xứng đáng làm mẫu cho học sinh noi theo.

 

Đưa ra văn mẫu phải chăng là để bít hết đường độc lập sáng tạo của học sinh trong quá trình tiếp nhận văn học ? Tuy nhiên, trong bài viết này, chúng tôi xin chỉ ra những đề văn có nhiều lỗi sai phạm về hành văn, về tu từ, về ngữ pháp. Đề văn thầy ra không đúng thì sao lại đòi học trò làm đúng và hay bài luận được ?

 

Ở trang 34 có hai đề văn phải sửa cho chính xác. Đề thứ nhất :" Trong lịch sử văn học nước nhà, có một số tác phẩm thơ văn xuất hiện vào thời điểm trọng đại của sự nghiệp giải phóng dân tộc và được coi là những bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc, trong đó có tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. 

 

Anh ( chị) hãy phân tích bài cáo để khẳng định giá trị nói trên của nó ". Đề văn này quá rườm rà, lủng củng. Phải bỏ hết sự trùng lặp, câu văn của đề mới gọn gàng, trong sáng. Chúng tôi xin bỏ các từ sau : "có", "thơ văn", "của dân tộc" và "của nó ". Sau khi bỏ từ trùng lặp, ta được một đề văn viết đúng như sau :

 

" Trong lịch sử văn học nước nhà, một số tác phẩm xuất hiện vào thời điểm trọng đại của sự nghiệp giải phóng dân tộc và được coi là những bản tuyên ngôn độc lập, trong đó có tác phẩm  Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Anh (chị) hãy phân tích bài cáo để khẳng định giá trị nói trên ".

 

Đề thứ hai : " Bàn về tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, có người đã khẳng định : Đây là tác phẩm có nhiều giọng điệu phong phú và hấp dẫn. Anh (chị) hãy phân tích bài cáo để chứng minh ý kiến trên". Đề văn trên không ổn ở chỗ tác giả dùng từ : "Giọng điệu " . Từ "Giọng điệu" thường được dùng ở những trường hợp không đẹp, không hay ví như : "Giọng điệu láo xược", "Giọng điệu phản động", "Giọng điệu con buôn "... Khi đưa từ "Giọng điệu" vào cho văn phong đa dạng của Nguyễn Trãi e không phải, không được. Có thể thay từ "Giọng điệu " bằng từ  : "phong cách", "lối thể hiện", "âm hưởng"...

 

Ở trang 196 đề văn ra về Tản Đà :" Đọc bài thơ Thề non nước  của Tản Đà, người thì cho rằng đây là bài thơ viết về tình yêu thắm thiết của nam nữ, người thì quả quyết là tác giả nói về phong cảnh thiên nhiên hữu tình, nhưng có người lại khẳng định : Thông qua câu chuyện tình yêu và lời thề  thủy chung gắn bó của non và nước, tác giả muốn gởi gắm tâm sự đau buồn trước hiện tại tang thương của đất nước và niềm ước vọng ở ngày mai. Theo anh (chị) nên hiểu bài thơ như thế nào và hãy phân tích bài thơ để thuyết minh cách hiểu đó". Đề văn trên quả là một câu văn điển hình về sai phạm nghệ thuật tu từ tiếng Việt. Ta cứ nhìn vào những chữ nghiêng đậm trên để thấy sự trùng lặp đã khiến câu văn quá lủng củng vì thừa dấu phảy, thiếu dấu chấm câu. Chúng tôi xin bỏ bớt từ ngữ rườm rà, sửa chữa để câu cú của đề  văn trên đúng văn phạm như sau :" Trước bài thơ "Thề non nước " của Tản Đà, đã có nhiều ý kiến khác nhau. Người nói đây là bài thơ về tình yêu nam nữ. Người bảo tác giả viết về phong cảnh thiên nhiên hữu tình. Người lại cho thông qua lời thề thủy chung yêu đương gắn bó giữa non và nước, tác giả gửi gắm tâm sự đau buồn trước đất nước tang thương và niềm ước vọng ở ngày mai.  Anh hay (chị)..."Ở trang 582, có đề văn về truyện ngắn " Một con người ra đời" của M. Gorky viết như sau :" Tại sao nói "Một con người ra đời"  là một hình tượng giàu ý nghĩa tượng trưng. Hãy chỉ ra ý nghĩa tượng trưng của nhân vật người mẹ, đứa con, người đỡ và hình tượng đại dương trong câu chuyện ". Đề văn này hỏng ở chỗ gọi sai tên sự vật. "Một con người ra đời" là tên tác phẩm, tên truyện ngắn của Gorky học sinh phải phân tích. Nhưng người ra đề đã gọi nhầm nó là "hình tượng". Phải viết lại như thế này thì đề văn trên mới đúng logic :" Tại sao nói "Một con người ra đời" là một truyện ngắn giàu ý nghĩa tượng trưng..."

 Ở trang 610, một đề văn về lý luận văn học viết như sau :"Tiếp nhận đòi hỏi người đọc sống với tác phẩm  bằng toàn bộ tâm hồn để cảm nhận cái thông điệp thẩm mỹ mà tác giả gửi đến cho người đọc văn học " ( SGK Văn 12, phần văn học nước ngoài và lý luận văn học -GD, 1992 ). Với kinh nghiệm đọc sách của bản thân, em hiểu ý kiến trên như thế nào ?". Câu  của đề văn trên là một câu văn què cụt, thiếu chủ ngữ.  " Tiếp nhận " cái gì ? - Văn học. Mệnh đề đầu của đề văn phải viết lại như thế này mới đúng :" Tiếp nhận văn học đòi hỏi người đọc ...". Và cuối câu trích dẫn đề văn trên, cần phải bỏ từ "mà" thay bằng từ "của" : "của tác giả", đồng thời bỏ mấy chữ sau :"...Gửi cho người đọc văn học ". .. Sau khi bỏ bớt và sửa chữa, thay từ ngữ, ta được một đề văn đúng văn phạm như sau :" Tiếp nhận văn học đòi hỏi người đọc sống với tác phẩm bằng toàn bộ tâm hồn, mới cảm nhận được thông điệp thẩm mỹ của tác giả . ( SGK Văn 12...".

Cho hay,  việc ra đề văn cho học sinh làm luận không phải dễ !

 

"MỜI TRẦU" hay "MẮNG TRẦU " ?  -     

-  MỘT BÀI VĂN MẪU CÓ NHIỀU SAI SÓT

           

                                                                        Trần Mạnh Hảo

 

Tập văn mẫu dùng cho học sinh trung học "217 ĐỀ VÀ BÀI VĂN " của 4 đồng tác giả : GS. Nguyễn Đăng Mạnh ( chủ biên), TS. Đỗ Ngọc Thống, TS. Hà Bình Trị, Chu Văn Sơn, dày 627 trang, do NXB Đại học quốc gia Hà Nội tái bản với số lượng lớn năm 2000, là một cuốn sách còn quá nhiều vấn đề phải bàn lại. Ngay việc tung ra hàng trăm bài văn mẫu cho học sinh, liệu có khiến triệt tiêu hết khả năng sáng tạo độc lập của các em khi tiếp nhận thẩm mỹ văn chương hay không, cũng là điều cần phải làm cho rõ. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn trao đổi với các tác giả tập văn mẫu về bài :" Phân tích bài thơ mời trầu của Hồ Xuân Hương" từ trang 53 đến trang 59.

 

MỜI TRẦU

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hương mới quệt rồi

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá bạc như vôi.

 

Trước khi phân tích bài thơ, tác giả bài văn mẫu mở bài quá dài, với một số khái quát về thơ Hồ Xuân Hương chưa chuẩn xác. Khi tác giả nói Hồ Xuân Hương tuyên chiến với thói trọng nam khinh nữ của xã hội phong kiến thì đúng. Nhưng khi tác giả bài văn mẫu viết như thế này về thơ Hồ Xuân Hương thì chưa đúng, không đúng :"...Hồ Xuân Hương tuyên chiến với một thứ khuôn phép, chuẩn mực của xã hội đẳng cấp phong kiến đã trở thành trái tự nhiên, phi đạo lý, bằng những vần thơ ngang ngược, oái oăm, bằng cái tôi ngông nghênh kiêu ngạo của mình :" Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ - Lại đây cho chị dạy làm thơ "; "Ghé mắt trông sang thấy bảng treo - Kìa đền thái thú đứng cheo leo - Ví đây đổi phận làm trai được - Thì sự anh hùng há bấy nhiêu "( chữ nghiêng đậm trong bài do TMH nhấn mạnh )...

 

Mấy câu thơ trích dẫn trên không dính dáng gì đến kết luận của tác giả . Hai câu đầu là bài thơ nữ sĩ diễu đám học trò nhỏ học hành không ra sao, lại hay ghẹo gái; tuy là diễu nhưng vẫn thông cảm, ưu ái. Bốn câu thơ sau là bài thơ chê bai, thậm chí chửi xéo Sầm Nghi Đống, thái thú của quân xâm lược nhà Thanh là quân hèn nhát. Tác giả khái quát thơ Hồ Xuân Hương là "ngang ngược, oái oăm, ngông nghênh kiêu ngạo " là áp đặt, là chưa hiểu thơ bà. Ngay khi dẫn câu thơ trong bài "Dỗ người đàn bà khóc chồng " :" Nín đi kẻo thẹn với non sông", tác giả bài văn mẫu tỏ ra không hiểu chính bài thơ và câu thơ này bằng một lời bình lạc lõng :"...Thậm chí thách thức với cả vũ trụ càn khôn".

 

Do chưa nắm được bản chất nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hương như những đánh giá vừa dẫn, tác giả lại đưa ra những kết luận vừa suy diễn, vừa theo kiểu phê bình xã hội học dung tục, nâng tiếng thơ trào lộng trữ tình bi hài của cá nhân bà thành phong trào quần chúng và những ấm ức cần giải toả của lịch sử dân tộc, của xã hội, bằng những lời đao to búa lớn như sau :

 

" Tuy nhiên, nếu Hồ Xuân Hương là tiếng nói đanh thép, dõng dạc của phong trào quần chúng hùng mạnh, quyết liệt nhất thì đồng thời cũng là sự thể hiện nỗi ấm ách, bực bội không giải toả được của lịch sử một dân tộc tuy khủng hoảng sâu sắc nhưng chưa tìm ra lối thoát ". Viết như thế, hoá ra Hồ Xuân Hương bỗng trở thành biểu tượng giải phóng xã hội và dân tộc, thành nhà cải cách của quần chúng (!)

 

Phần mở bài đã được tác giả viết quá dài, quá linh tinh, gần một nửa bài viết, toàn đưa ra những kết luận không đúng về thơ Hồ Xuân Hương. Khi vào thân bài, tác giả lại lạc đề gần hết một trang, đưa ra nhiều nhận định không đúng khác , ví như kết luận rất sai về Thơ Đuờng như sau :

 

" Thơ Đường thường thiên về tính trừu tượng khái quát, ít khi miêu tả chi tiết cụ thể. Do đó Thơ Đường cũng ít dùng đến những màu sắc cụ thể đập mạnh vào cảm giác người đọc. Thơ Đường thiên về trí tuệ nên thường chỉ gợi liên tưởng chứ ít miêu tả trực tiếp". Chỉ cần đọc ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, cũng đủ thấy kết luận trên về Thơ Đường của tác giả bài văn mẫu này là một kết luận không đúng.

 

Khi tác giả viết như như dưới đây thì có vẻ như đã thẩm được bài thơ "Mời trầu " :" Cho nên đọc kỹ, lắng kỹ từng câu thơ Mời trầu mà xem, có phải đằng sau cái đanh đá, đáo để, vẫn còn một tấm lòng khát khao tha thiết và một giọng khiêm tốn nhún nhường ( Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi - Này của Xuân Hương đã quệt rồi ) và không phải không có một cái gì như xót xa cay đắng mà nhà thơ không hoàn toàn che dấu nổi ( Có phải duyên nhau thì thắm lại - Đừng xanh như lá bạc như vôi)..

 

Bài thơ "Mời trầu" khá dễ hiểu, tình cảm và ý tưởng của nữ sĩ hầu như đã là một vỉa quặng lộ thiên. Chúng tôi rất ngạc nhiên khi tác giả bài văn mẫu này tỏ ra không muốn hiểu bài thơ, lại đưa ra những lời phân tích áp đặt, sai lạc tinh thần bài thơ đến cỡ thế này là cùng :

 

"...Mời trầu người ta, lẽ ra thì phải mềm mỏng, dịu dàng và phải bẽn lẽn một chút, Xuân Hương không thế, cái tôi dõng dạc xưng tên :" Này của Xuân Hương đã quệt rồi..."..."...Vậy mà nhà thơ nữ của chúng ta dõng dạc :" Này của Xuân Hương". Rõ ràng là một sự thách thức táo bạo trước dư luận xã hội. Đã thế lại còn đóng dấu ấn cá nhân vào miếng trầu đưa cho người một cách rất ít mềm mỏng :

 

" Này của Xuân Hương đã quệt rồi". Quệt cũng như têm thôi (têm  trầu), nhưng quệt tỏ ra suồng sã hơn, bướng bỉnh và ngang ngược hơn, không muốn khiêm tốn một chút nào. "Có phải duyên nhau thì thắm lại". Nhau tuy có giọng thân mật đấy nhưng hoàn toàn bình đẳng. Đến câu tiếp theo không còn là giọng mời chào nữa, mà là một lời mắng hẳn hoi. Mời ăn trầu mà cứ như mắng người ta, dù là mắng yêu đi nữa, thì cũng chỉ có Xuân Hương thôi :" "đừng xanh như lá bạc như vôi !"

 

Tác giả bài văn mẫu sợ người đọc chưa tiếp nhận được "phát kiến" mới của mình trong việc giải mã câu cuối bài thơ, bèn tuyên bố một lần nữa, như muốn khép lại bài phân tích thơ một cách hùng hồn rằng :" "Đừng xanh như lá bạc như vôi " . Đúng thế, mời mà như mắng người ta ". Viết như thế, tác giả bài luận văn trên quả là không hiểu bài thơ "Mời trầu", một bài thơ trữ tình dịu dàng và tình cảm nhất của Hồ Xuân Hương. Từ "Mời trầu", tác giả bài văn mẫu đã chuyển hệ cho Hồ Xuân Hương sang kênh "mắng trầu", có thể biến nữ sĩ trở thành hình ảnh của kẻ vô duyên, bỗ bã, nhố nhăng ? Bình thơ như trên, phải chăng là mẫu mực của nghệ thuật giảng văn trong nhà trường trung học ?

 

Tp.Hồ Chí Minh ngày 10-2-2001

Trần Mạnh Hảo
Số lần đọc: 2812
Ngày đăng: 21.05.2005
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Hội chứng “ VĂN MẪU " :SOS (!) - Trần Mạnh Hảo
Có thật :" VĂN CHƯƠNG LÀ VẬT VÔ TRI " ? - Trần Mạnh Hảo
Lang thang cùng - Võ Tấn Cường
Nhân chuyện NGUYỄN PHI THANH phản ứng BÀI GIẢNG " VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC"- NGHĨ VỀ VẤN NẠN CỦA MÔN VĂN TRONG NHÀ TRƯỜNG HIỆN NAY - Trần Mạnh Hảo
Sau đồi vọng cảnh. - Trần Kiêm Ðoàn
Một bài thơ - Dấu ấn của thời đổi mới. - Triệu Xuân
C. G. Jung và lý thuyết phân tích văn hóa. - C.G.Jung
Nghệ thuật múa cung đình Huế - Võ Quê
Một bài thơ cứu một đời thơ - Triệu Xuân
Bữa tiệc chay ở Huế - Tiểu Kiều
Cùng một tác giả