Nhà báo, nhà văn Lê Khánh Căn và vợ của ông - Ca sĩ Tân Nhân - Ảnh: TL.
Có lần Lê Khánh Hoài trở lại thăm quê nhà Quảng Trị, mấy anh em văn nghệ, báo chí rủ anh ra ngồi bên dòng sông Hiếu lai rai, nghe gió thổi miên man trong chiều hè. Bất chợt một nhà báo buột miệng hỏi anh:
- Anh Hoài này, được biết sau này khi gặp lại ba anh - nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, sao anh không cải lại họ Hoàng, một dòng họ nổi tiếng ở Triệu Phong.
Không một chút chần chừ, anh trả lời:
- Anh không bao giờ đổi lại họ, bởi vì như thế là có lỗi với bố anh - nghĩa phụ Lê Khánh Căn, dù bây giờ bố đã qua đời.
- Vậy nghe nói sau này trong gia phả của gia tộc họ Hoàng, ba anh đổi họ anh là Hoàng Hữu Hoài, làm thủ tục bảo lãnh cho anh qua Mỹ. Sao anh không đi?
- Anh ở lại là vì anh thương mẹ. Cả một đời bố mẹ đã thương yêu, chăm sóc cho anh, ra đi sao đành.
Có thể nói cả cuộc đời, từ tuổi thơ cho đến trưởng thành, vào quân ngũ, anh được sự thương yêu, bảo bọc, giáo dục của người bố - nhà báo, nhà văn Lê Khánh Căn. Khi mẹ anh đến với ông, anh được đặt tên khai sinh là Lê Khánh Hoài.
Có thể hiểu thêm nhà báo, nhà văn Lê Khánh Căn qua hồi ức của ba người: Nhạc sĩ Trần Hoàn; ca sĩ Tân Nhân - vợ của ông và nhà văn Lê Khánh Hoài, người mà ông đã dành tình yêu thương như con đẻ của mình.
Trong hồi ký của cố nhạc sĩ Trần Hoàn, nguyên Bộ trưởng Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Lê Khánh Căn là người hoạt động cách mạng rất sôi nổi. Bộ trưởng Trần Hoàn nhớ lại trong hồi ký của mình về những năm tháng trước cách mạng:
“Một hôm, Phan Tử Quang, Bí thư đoàn học sinh cứu quốc Thuận Hóa gọi tôi, Lê Khánh Căn, Nguyễn Hữu Chỉnh và một số học sinh khác trong Thường vụ đoàn để chuẩn bị đi gặp mặt các anh Nguyễn Chí Thanh và Tố Hữu. Cuộc gặp gỡ diễn ra ở trụ sở Việt Minh Trung Bộ bên đường Trần Hưng Đạo. Với ấm nước chè tươi, vài đĩa kẹo mè xửng mà anh Lê Chưởng, Bí thư Thành ủy Huế ưu đãi cho cuộc họp.
Theo yêu cầu của anh Thanh, chúng tôi đọc thơ của mình cho cuộc họp cùng nghe. Lúc bấy giờ, tuy đã theo cách mạng, nhưng với Khánh Căn, Hữu Chỉnh hay tôi, tâm hồn còn khá lãng mạn. Ảnh hưởng của thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Xuân Sanh, Bích Khê... còn khá nặng trong mỗi người. Những bài thơ của chúng tôi tuy chân tình, nhưng còn non nớt, đậm đặc cái tôi, ướt đẫm trong tình yêu lứa đôi. Anh Thanh lắng nghe chăm chú, rất cảm thông và không hề có phản ứng gì. Cuối cùng, gọi là để góp vui, anh cũng tham gia đọc vài bài thơ anh làm trong lao tù.
Một bạn trong chúng tôi táo bạo hỏi:
- Răng thơ anh toàn xiềng gông rứa?
Anh Thanh cười hồn hậu:
- Có thơ về tình thì cũng có thơ về hận chớ.
- Nhưng mà thơ về tình nghe hay hơn chứ anh?
- Cũng có thể, nếu thơ viết về hận không hay. Nhưng thơ về tình cũng có ba, bảy đường, không chỉ có tình lứa đôi, mà còn tình nước non, tình đồng bào, đồng chí nữa chứ!
Nói đến đây, anh nhìn chúng tôi cười cởi mở, và đề xuất ý kiến thành lập “Hội thơ cách mạng” mỗi tuần sinh hoạt một lần để đọc thơ cho nhau nghe và trao đổi kinh nghiệm làm thơ. Tất nhiên, chúng tôi đồng ý ngay và bốc nhất là Lê Khánh Căn...”.
Theo hồi ký của ca sĩ Tân Nhân thì bà với ông Lê Khánh Căn biết nhau từ những ngày đầu dấn thân theo cách mạng. Hồi đó chàng thanh niên Lê Khánh Căn làm Bí thư chi bộ trường Khải Định, thành phố Huế, còn cô nữ sinh Trương Tân Nhân làm Ủy viên tuyên truyền huấn luyện nữ sinh Đồng Khánh. Những cuộc tuần hành trên đường phố dọc sông Hương, những buổi họp hành đã có sức cuốn hút rất lớn học sinh, dù lúc đó họ mới mười lăm, mười bảy tuổi, ngoài giờ học ai cũng rất hăm hở lao vào hoạt động cách mạng.
Cách mạng tháng Tám bùng nổ, Tân Nhân cùng đám bạn ngày nào cũng tung tẩy ngoài đường. Hồi đó các anh Nguyễn Tăng Hích (nhạc sĩ Trần Hoàn), Lê Khánh Căn, Phan Giếp, Hoàng Triều, chị Nguyệt Tú... học trên Tân Nhân nhiều lớp, hoạt động cách mạng rất giỏi, là thần tượng của lớp đàn em lúc bấy giờ.
Năm 1949, từ Bình Trị Thiên - Hương Khê, Tân Nhân được chuyển về học chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng - Châu Phong. Vừa lên chuyến đò dọc đã có mấy anh chị ra bến đón. Buổi trưa ăn cơm có một anh nhìn Tân Nhân cầm đũa liền đùa: “Nữ sinh Đồng Khánh khéo tay”. Người đó là một anh cao, thanh tú, trắng trẻo, dáng thư sinh con nhà giàu với đôi mắt to, sáng, vừa tươi lại vừa nghiêm. Nghe họ gọi nhau, Tân Nhân mới biết đó là anh Lê Khánh Căn. Cô cũng từng nghe một đồng chí lãnh đạo bên công an hồi đó nhận xét: “Thanh niên Huế có lớp Khánh Căn là triển vọng”.
Cuối năm học, các anh chị ra trường, tản mác đi nhận công tác nhiều nơi. Lê Khánh Căn ra Việt Bắc. Hồi đó Tân Nhân với Khánh Căn chưa biểu lộ gì nhưng lòng đã thầm có cảm tình. Tiễn Khánh Căn đi, Tân Nhân tặng cho anh một chiếc khăn nhỏ. Còn Tân Nhân thì tình nguyện vào Đoàn văn công mặt trận Bình Trị Thiên và Trung Lào do ông Bửu Tiến làm trưởng đoàn. Gặp lại nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ ở Trường Huỳnh Thúc Kháng, sau một thời gian dài người ta cứ ngỡ Tân Nhân đã chết trong một trận càn, xúc động trước tình cảm của người bạn cùng quê, họ đã trải qua những tình cảm mặn nồng.
Khi Hoàng Thi Thơ về thăm quê ở Triệu Phong, Quảng Trị và kẹt lại thì Tân Nhân sinh ra Hoài ở Hà Tĩnh trong sự bảo bọc của bà con, bạn bè. Cho đến một hôm nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương tìm đến và đưa Tân Nhân về Đoàn Văn công Trung ương. Thế là Tân Nhân phải gửi con lại cho bà ngoại và người mợ để khoác ba lô lên đường. Trong hành trang của chị chỉ có hai bộ quần áo vải, dép cao su, chiếc nón cũ. Đi đường còn có anh Vũ Lương (sau này là chỉ huy dàn nhạc), phải trải qua nhiều ngày đêm mới về tới Thủ đô Hà Nội, địa chỉ họ tìm vào là Bộ Văn hóa.
Người đầu tiên mà Tân Nhân gặp lại ở đây là anh Khánh Căn. Anh đang chơi bóng bàn. Qua chút bỡ ngỡ, họ nhận ra nhau và rất đỗi vui mừng vì là bạn cùng trường ở Huế một thời hàn vi gian khổ.
Tân Nhân được đưa về Đoàn Văn công Trung ương, bắt đầu một cuộc sống mới, biểu diễn ở Thủ đô Hà Nội và các tỉnh, thành phố khác. Ngoài anh Khánh Căn thường lui tới đoàn, còn có anh Đặng Đình Hưng, anh Nguyễn Xuân Khoát, anh Nguyễn Văn Thương, anh Đào Vũ... đều ở khối tuyên huấn Trung ương, từng thân thiết với nhau từ hồi ở Việt Bắc.
Có lần anh Khánh Căn ngỏ lời xây dựng gia đình với Tân Nhân làm chị bối rối. Quả thật Tân Nhân chưa hoàn hồn sau lần qua sông đầu tiên nên tâm sự: “Em còn lo lắng nhiều bề, rất sợ những đổi thay vội vã”.
Tết năm đó Tân Nhân với Khánh Căn ra bờ Hồ Gươm hái lộc, đón giao thừa. Khánh Căn rủ Tân Nhân lên chúc tết nhà thơ Tố Hữu, vốn là người mà Khánh Căn làm thư ký trong những ngày kháng chiến ở Việt Bắc. Vừa thấy Khánh Căn và Tân Nhân đến, nhà thơ Tố Hữu vui mừng nói:
- Tổ chức đi thôi!
Anh Khánh Căn phân trần:
- Chúng tôi còn khó khăn, sợ chưa làm tốt.
- Khỏi lo, để bọn mình giúp - nhà thơ Tố Hữu nhiệt tình.
Thế là với tâm hồn nồng hậu của nhà thơ vừa là nhà lãnh đạo, nhà thơ Tố Hữu cho gửi giấy mời vào mồng bốn Tết. Ngày ấy gia đình cậu mợ Tân Nhân chưa ra Hà Nội, chỉ có đại diện gia đình. Dự lễ cưới toàn các anh chị ở Bộ Văn hóa, các anh ở bên Thông tấn xã Việt Nam, báo Nhân Dân như ông Hoàng Minh Giám, ông Hoàng Tùng, ông Xích Điểu... Ở Đoàn Văn công Trung ương ngoài các anh phụ trách còn có Kỳ Lâm mang theo đàn tới phục vụ đám cưới.
Sau khi tuyên bố xong thì cô dâu Tân Nhân hát mấy bài. Thời đó mọi sự giản đơn và thân tình, mọi người đều thân ái đến chung vui với Khánh Căn và Tân Nhân. Khó khăn đầu tiên mà hai người gặp phải là chỗ ở chưa có. Khi đó Khánh Căn làm báo Nhân Dân ở phố Hàng Trống, sát bên Hồ Gươm, trung tâm thành phố, còn Tân Nhân ở tận Cầu Giấy, khu văn công tập trung.
Khánh Căn làm Ban thư ký báo Nhân Dân. Anh vốn ốm yếu, đi làm, trực đêm về ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng vì công việc nên không thể nào khác. Anh mất mẹ từ mấy tháng tuổi, được ông bà nuôi là chính. Lên năm, sáu tuổi anh có mẹ kế rất học thức, đôn hậu, thương yêu anh như con đẻ nhưng ít ở gần. Nhà anh có bốn anh em trai. Bố anh là ông Lê Khánh Đồng, người làm thơ tự do lớp đầu tiên trong lịch sử văn thơ Việt Nam, lại làm thầy thuốc đông tây y rất giỏi. Ông từng làm giám đốc Bệnh viện khu IV trong thời kỳ chống Pháp, sau về Hà Nội làm Viện phó Viện Đông Y.
Sau khi cưới xong, gia đình Khánh Căn – Tân Nhân thuộc diện nghệ sĩ nghèo, đồng lương ít ỏi, phải nuôi ba con nhỏ mà gia đình lại phân tán nhiều nơi. Tuy thiếu ăn, thiếu mặc, nhà cửa chật chội, tuềnh toàng nhưng họ rất hạnh phúc. Sau này hai người được phân một căn hộ ở khu tập thể Nam Đồng. Thời điểm này cuộc kháng chiến đi vào hồi quyết liệt. Các con của Khánh Căn và Tân Nhân phải sơ tán về nông thôn, trong khi hai vợ chồng luôn phải đi công tác xa. Khi ở Hà Nội thì hai người lại thay nhau hoặc cùng nhau đạp xe đi thăm các con. Gặp con chỉ được mấy tiếng, nấu một bữa ăn tươi rồi họ lặn lội đường xa trở về.
Nhìn lại chặng đường đi qua, ca sĩ Tân Nhân rất tự hào về người chồng mẫu mực của mình. Buổi ban đầu theo cách mạng, Khánh Căn đã được anh Tố Hữu và anh Nguyễn Chí Thanh giới thiệu vào Đảng Cộng sản Việt Nam, là Bí thư chi bộ hai trường: Khải Định và Huỳnh Thúc Kháng. Sau khi tốt nghiệp tú tài, Khánh Căn được điều ra Việt Bắc làm ở Tuyên huấn Trung ương, cùng cơ quan với các anh Tố Hữu, Nguyễn Văn Linh, chị Vũ Thị Thanh, từng tham gia chương trình cải cách giáo dục đầu tiên do ông Trường Chinh chủ trì.
Hoà bình lập lại, Lê Khánh Căn về công tác ở báo Nhân Dân. Năm 1972, trung ương điều anh sang phụ trách Ban Văn nghệ Đài Giải phóng ở Quán Sứ và Đại La, sau đó được điều vào công tác ở Thành phố Hồ Chí Minh sau ngày đất nước thống nhất. Dù công tác ở đâu anh cũng được mọi người yêu mến, kính trọng bởi anh tận tụy với công việc và rất thương yêu dìu dắt anh em chu đáo.
Ca sĩ Tân Nhân nói rằng, do ở rừng nhiều năm, công tác căng thẳng nên anh Khánh Căn ra đi năm sáu mươi tư tuổi. Cả một đời dâng hiến cho lý tưởng cách mạng, là một tấm gương trí thức yêu nước nồng nàn, có tâm hồn trong sạch, cao thượng, dám đấu tranh bảo vệ lẽ phải, hào hiệp cưu mang những người yếu thế mà không tính toán, dẫu thiệt thòi, hy sinh anh vẫn không một lời kêu ca. Câu nói cuối cùng của anh là: “Chúng ta sẽ thắng”. Đây là niềm tin của anh vào lý tưởng tốt đẹp, lòng yêu nước yêu dân.
Có lẽ những người sống thời kỳ những năm 60, 70 thế kỷ XX nhiều người biết đến nhà báo, nhà văn Lê Khánh Căn. Ông là dịch giả nhiều bản dịch các cuốn sách nổi tiếng một thời của Nhà xuất bản Kim Đồng và tác giả của nhiều bài báo trên báo Nhân Dân ngày ấy. Ông là một nhà văn, nhà báo mẫn cán suốt cuộc đời lăn lộn trên các mặt trận và các vùng miền của đất nước để viết bài cho báo Nhân Dân.
Người ta còn gặp tên ông trong bản dịch cuốn sách nổi tiếng cho trẻ thơ “Maruxia đi học” do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành. Sau này trong một dịp từ Thành phố Hồ Chí Minh ra dự Đại hội IX Hội Nhà văn Việt Nam, chính nhà văn Lê Khánh Hoài đã đến Thư viện Quốc gia Việt Nam để tìm lại cuốn truyện “Maruxia đi học”. Tại đây anh đã đã tìm thấy bản dịch truyện “Maruxia đi học” gồm hai tập do Nhà xuất bản Kim Đồng in năm 1959 với số lưu chiểu lần lượt là 6.379 và 6.511.
Câu chuyện này khởi đầu là sau khi đọc bài viết “Gửi lời chào lớp Một: Thơ của ai?” đăng trên báo Tuổi Trẻ ngày 7/7/2015, nhà văn Lê Khánh Hoài đã nhận ngay ra đây là bản dịch của bố ông - nhà báo Lê Khánh Căn. Trả lời báo Tuổi Trẻ, nhà văn Lê Khánh Hoài nói:
“Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, bố tôi làm Bí thư Đoàn Trường Khải Định ở Huế, sau đó cùng với bác Trần Hoàn đi theo kháng chiến. Năm 1956, bác Tố Hữu cử ông sang làm Sở Báo chí trung ương. Năm 1957 ông về làm báo Nhân Dân với bút danh Hồng Chuyên. Với vốn tiếng Pháp của mình, ông đã dịch tập truyện “Maruxia đi học” do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành. Theo tôi nhớ, bản in lần đầu năm 1958 có ghi Lê Khánh Căn dịch. Đáng tiếc bản này tôi không tìm thấy nữa. Đến lần tái bản năm 1959, ông lấy tên con gái út mà ông yêu quý là Khánh Như để đặt bút danh. Đây là bản Thư viện Quốc gia còn lưu. Như vậy từ năm 1958-1959 đã có “Maruxia đi học” rồi. Đến năm 1971, tập truyện tiếp tục được Nhà xuất bản Kim Đồng tái bản và dồn lại thành một tập”.
Từ sự tìm hiểu nguyên bản dịch đầu tiên của Lê Khánh Hoài đã làm sáng tỏ mối quan tâm của bạn đọc lâu nay về tập truyện này.
Cũng theo tìm hiểu của Lê Khánh Hoài, người đã bỏ nhiều công sức tìm hiểu về nghĩa phụ của anh thì quê của nhà báo Lê Khánh Căn ở xã Sơn Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng ông được gửi vào Huế học tập từ tuổi ấu thơ, sớm được giác ngộ cách mạng ở đây và tình yêu văn học cũng nảy nở từ đây. Yêu văn học là vậy, nhưng rồi sau này, suốt cuộc đời của ông lại làm nghề báo. Từ Huế, ông được điều ra Việt Bắc làm ở Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng, có thời gian làm thư ký cho nhà thơ Tố Hữu, rồi sau đó lại được cử cùng bà Vũ Thị Thanh, cũng là một cán bộ trong Ban Tuyên huấn và là vợ của nhà thơ Tố Hữu tham gia nhiều hoạt động.
Sau thời gian này, ông về công tác tại báo Nhân Dân, là một phóng viên mẫn cán của báo, lăn lộn khắp các đồng đất, khắp các mặt trận để viết bài cho báo Nhân Dân.
Nhưng cái mộng văn chương như mối tình đầu cứ theo mãi. Chính vì thế mà vào những năm 60 của thế kỷ XX, ở Tòa soạn báo Nhân Dân, 71- Hàng Trống - Hà Nội, đêm ngày ông cầm bút viết báo, nhưng cứ đến buổi trưa được nghỉ một hai tiếng, ông lại lặng lẽ đóng chặt cửa phòng miệt mài viết văn. Bản thảo tiểu thuyết “Huế ngày ấy” của ông bắt đầu hình thành từ những ngày ấy. Ông viết về Huế - thành phố ông coi như quê hương thứ hai, Huế năm 1945 trong cuộc cách mạng long trời lở đất; Huế với những người chiến sĩ cộng sản kiên cường như Nguyễn Chí Thanh - linh hồn của Huế những năm tháng ấy; Huế của những người trí thức song hành cùng cách mạng, cùng kháng chiến...
Ông say mê viết từ ngày này qua ngày khác, trên những trang giấy một mặt mà mặt kia là các bản tin của Thông tấn xã Việt Nam đã sử dụng, còn bút mực là bút mực của học sinh, mực tím thường phai nhòe các trang giấy. Ông cứ viết với một tình yêu khôn cùng với văn học, với những con người Huế bất khuất, kiên cường, viết cho tới một ngày đất nước chiến tranh ác liệt, ông được lệnh khoác ba lô lên đường giã từ những trang văn để đi vào chiến trường Trị Thiên Huế. Cây bút và những dòng tin, những ký sự nóng bỏng hơi thở chiến trường bấy giờ là sứ mệnh duy nhất của ông.
Mấy chục năm đã trôi qua, những bản thảo trên giấy một mặt của Thông tấn xã Việt Nam như đã mục nát theo thời gian. Giấy đã ố vàng, mọt đục nhiều trang viết tưởng như không thể đọc được nữa. Nhưng may thay, những hồn chữ thì không phai nhòa. Từ chồng bản thảo vượt thời gian đó, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, trực tiếp là biên tập viên Nguyễn Bình Phương (sau này là Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội) đã khôi phục lại từng con chữ, từng trang bản thảo để rồi đến một ngày, nhà xuất bản cho ra mắt bộ tiểu thuyết “Huế ngày ấy” với 700 trang in, được người đọc đón nhận nhiệt tình, làm xúc động không ít bạn bè, đồng nghiệp, người đọc và cả vợ con của ông.
Khi cầm sách trên tay, cả gia đình ông đã không khỏi rơi nước mắt vì xúc động, cảm phục tình yêu văn học của cha mình từ những năm tháng còn rất nhiều khó khăn để có những trang viết giá trị cho hôm nay. Một nhà phê bình văn học đã bình luận: “Huế ngày ấy đến với chúng ta vào mùa xuân. Là bức tranh hoành tráng đầy bi hùng của Huế vào những ngày tháng đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp. Là bài ca về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mà lịch sử sẽ còn mãi nhắc về ông. Là sự song hành của người trí thức Huế đi cùng cách mạng, đi cùng đất nước”.
Qua thời gian, những trang viết của Lê Khánh Căn làm cho Huế trở nên góc cạnh và rực rỡ lạ thường. Nó không chỉ làm xúc động những người con của Huế, mà còn của tất cả những ai đã từng đi qua hai cuộc kháng chiến oanh liệt của dân tộc. Với 700 trang in, đây là một bộ tiểu thuyết khá đồ sộ về Huế và về đề tài chiến tranh cách mạng. Đây cũng là bộ tiểu thuyết duy nhất của nhà báo, nhà văn Lê Khánh Căn.
Được biết bộ tiểu thuyết được nhà báo, nhà văn Lê Khánh Căn viết vào những năm 60 của thế kỷ XX, và nó còn dang dở trong dạng phác thảo, khi ông như một người lính được lệnh vào chiến trường trên cương vị một phóng viên báo Nhân Dân ở Trị Thiên Huế. “Huế ngày ấy” là cuốn sách đồ sộ về phong trào cách mạng những năm tháng hào hùng của Huế sau khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 và toàn quốc kháng chiến. Đó là một thời kỳ máu lửa, oanh liệt và bi tráng bậc nhất mà không viết ra, có thể sẽ mãi mãi chìm vào quên lãng.
Những câu chuyện hư cấu đan xen sự xuất hiện những nhân vật lịch sử có thật đã có sức thuyết phục người đọc về tính chân thực của đời sống trong tập sách của Lê Khánh Căn. Trong tác phẩm, người đọc có thể thấy hình ảnh của nhà thơ Tố Hữu, ông Nguyễn Chí Thanh và nhiều nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng khác. Là người lính, Lê Khánh Căn đã nhắc về Trung đoàn Trần Cao Vân nổi tiếng mặt trận Bình Trị Thiên và cả nước một thuở. Mặt trận vỡ nhưng cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng của quân và dân ta vẫn tiếp tục.
Lê Khánh Căn trưởng thành từ trong những ngày gian khổ ấy, sau này dù ông lặng lẽ giữa cuộc đời không màng danh lợi, nhưng có một điều nhiều người cảm phục ông - tác giả cuốn sách, đó là tình yêu ông dành cho Huế và tâm huyết vẹn nguyên dành cho cuộc đời. Cũng xin nói thêm rằng, người em ruột của Lê Khánh Hoài là Lê Khánh Châu, con của nhà báo Lê Khánh Căn và nghệ sĩ Tân Nhân, là giáo sư - tiến sĩ hiện đang giảng dạy ở Đại học Bochum - Cộng hòa Liên bang Đức. Lê Khánh Châu là con rể trưởng của nhà thơ Tố Hữu.
Cuộc đời và sự nghiệp của nhà báo, nhà văn Lê Khánh Căn có ảnh hưởng đến Lê Khánh Hoài. Ông thương Hoài như các con mà ông có với ca sĩ Tân Nhân. Mãi sau này khi ông công tác từ chiến trường Bình Trị Thiên ra Hà Nội, biết nguyện vọng Lê Khánh Hoài muốn vào quân ngũ, tham gia chiến đấu trên chiến trường như ông từng trải qua, ông lặng lẽ ủng hộ con, tiễn con lên đường để có dịp trui rèn cuộc đời trong quân ngũ nơi chiến trường gian lao, ác liệt. Lê Khánh Hoài cũng rất thương bố một đời vất vả nhưng luôn dành cho các con tình thương yêu sâu sắc và làm tất cả những gì có thể cho các con, trước khi ông từ giã cuộc đời này.