Đặng Văn Việt con quan Thị lang bộ Công Đặng Văn Hướng mới 10 tuổi bịn rịn giã từ bè bạn cùng lớp tại trường Quốc học Huế để sang ‘mẫu quốc’ học tập nhân thân phụ được đưa sang Pháp bồi dưỡng và tập sự về Hình luật.
4 năm sống và theo học tại trường Lycée de la Providence đã cho cậu một cái nhìn và cách sống khác người: Tây hơn, bạo hơn và lòng yêu nước nồng nàn từ nỗi nhục của cha, của vua, của dân mình. Thấy con có khiếu quân sự Đặng công đã mua một thùng sách viết về binh pháp Đông Tây, về đại chiến thế giới lần thứ I, … cho cậu đọc. Vậy là sau giờ học cậu miệt mài nghiền ngẫm binh thư, chiều chiều được cha luyện võ, nhưng những tối cuối tuần lại tập tành khiêu vũ và dành trọn chiều chủ nhật cho môn quần vợt thời thượng. Nhờ cách sống ấy cậu mạnh mẽ, cường tráng và cao lớn hơn người.
Về nước anh lại tiếp tục học tại trường Trung học Khải Định. Năm 1942 thi đỗ Tú tài toàn phần với bài luận văn nỗi tiếng có điểm thi 16/20 – thứ II toàn cõi Đông Dương. Có cái nhìn của bậc anh hùng khi làm bài thi về đề tài là vở kịch Le Misanthrope (Kẻ ghét đời) của Molière. Anh đã viết một lá thư khuyên Misanthrope khi bị Célimène bỏ rơi rằng: Trên đời có hàng trăm, hàng nghìn phụ nữ… Tình yêu không phải lý do duy nhất để sống mà còn có văn hóa, nghệ thuật, văn học, hội họa, thể thao, công việc …
Nhưng vì thế anh đã bị người yêu – tiểu thư Lan Hoa giận lẫy cả tháng trời. Cô vốn con quan Thượng thư bộ Hình – là cấp trên trực tiếp của quan Tham tri họ Đặng, cô là lá ngọc cành vàng đang mơ tưởng về một gia đình giàu có, êm đẹp, đầy thi vị như tiểu thuyết đang thịnh hành thời ấy.
Thế mà cũng năm này anh mạnh mẽ xa cô để lập công danh, ra Hà Nội học trường Cao đẳng Y khoa Đông Dương mà không chịu làm một vị quan cho yên ấm tại kinh đô. Vết nứt lớn dần trong trái tim đài các. Còn anh ở trung tâm đô hội ấy đã là một công tử nỗi tiếng phong lưu, quần vợt, khiêu vũ đã là thú đam mê nhưng sau đó bằng trái tim yêu nước nhiệt tình anh đã từ bỏ tất cả để theo Việt Minh đấu tranh để giành độc lập cho Tổ quốc.
Tháng ba 1945 Nhật đảo chính Pháp, trường Y khoa đóng cửa, tổ Việt Minh của anh do anh Lâm Kèn (tổ trưởng), anh Phan Hàm, anh Võ Quang Hồ (sau này đều là thiếu tướng quân đội cả) đã nhận lệnh trở lại Huế. Họ tham gia vào Đoàn Thanh niên tiền tuyến của ông Phan Anh - Bộ trưởng bộ Thanh niên trong chính phủ Trần Trọng Kim cùng các bạn hữu chí khí hơn người: Cao Văn Khánh, Cao Pha, Đoàn Huyên, … để xây dựng phong trào, sau này đều là những cán bộ cao cấp của chính quyền cách mạng.
Tình hình biến chuyển thuận lợi cho cách mạng, phong trào rộng khắp và mạnh mẽ.
Ở Huế người mà Đặng Văn Việt và Lâm Kèn khi đó thường gặp xin chỉ thị là ông Hoàng Anh (nguyên Bí thư Tỉnh ủy Thừa – Thiên Huế, sau này là Phó thủ tướng Chính phủ) và ông Trần Hữu Dực (nguyên Chủ tịch Uỷ ban Hành chính kháng chiến Trung Bộ, sau này là Phó thủ tướng Chính phủ).
Chàng thanh niên Đặng Văn Việt cùng bạn học đã được "Việt Minh hóa" với 43 sinh viên, trở thành 43 sĩ quan của Giải phóng quân Thừa Thiên – Huế sau này.
Sáng ngày 19 tháng 8, hàng chục vạn người dân ở Hà Nội và các tỉnh lân cận theo các ngả đường kéo về quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội. Khoảng 10 giờ rưỡi, cuộc mít tinh lớn chưa từng có của quần chúng cách mạng được sự bảo vệ của Thanh niên tự vệ, của tổ chức Việt Minh Hoàng Diệu Hà Nội đã diễn ra. Đại diện Việt Minh tuyên bố: Tổng khởi nghĩa!
Trong điện gửi về Tokyo, Đại sứ Nhật tại Đông Dương xác nhận: "Chiều ngày 19, Đại sứ đã 'được mời' đến dự cuộc gặp với các lãnh đạo Etsumei (Việt Minh) và đã tham gia bàn bạc với những người đó, được coi như là các nhà chức trách chính thức."
Ngày 20-8-1945 Đặng Văn Việt nhận được tin cử đến một địa điểm bí mật gặp đồng chí Trần Hữu Dực và được trao nhiệm vụ treo lá cờ đỏ sao vàng trước Kỳ đài Ngọ Môn vào sáng 21-8.
Chàng thanh niên 25 tuổi hăng hái nhận nhiệm vụ rồi cuộn tròn lá cờ vào bao tải đem về trường. Cùng lúc đó, tổ chức huy động thêm anh Nguyễn Thế Lương (tức Cao Pha, sau này là Thiếu tướng, Cục trưởng Cục 2) cùng tham gia với Đặng Văn Việt.
Lâm Kèn tổ trưởng giao cho Việt một khẩu súng lục để thị uy. Đồng thời yêu cầu Việt và Lương phải ăn mặc đồng phục chỉnh tề của trường, đi giày da, đội mũ ca nô sao cho oai phong lẫm liệt nhất.
Kỳ đài Huế nằm cách Ngọ Môn khoảng 300m, trên khuôn viên 4 héc-ta, xây 3 tầng cao 17,5m, chính giữa là cột bê tông 30m. Trên đỉnh cột cờ có ròng rọc, dây kéo cờ to bằng cổ tay, phải 5-6 người mới kéo nổi. Có một tiểu đội 12 người với súng trường canh gác kỳ đài. Ngoài ra là 120 lính khố vàng trang bị súng, pháo và cả thần công để bảo vệ nhà vua.
Sáng sớm 21-8, không khí mùa thu dịu mát, bầu trời cố đô Huế trong xanh cao vợi, Đặng Văn Việt và Nguyễn Thế Lương cuộn lá cờ buộc chặt lại, gác lên hai xe đạp rồi đẩy xe đến chân Kỳ đài.
Việt dặn Lương đợi, anh vào gặp thầy đội chỉ huy tuyên bố: “Theo lệnh của Ủy ban Kháng chiến Trung Bộ, chúng tôi có nhiệm vụ treo cờ cách mạng lên thay cờ quẻ ly. Các anh hãy giúp chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ.”
Viên thầy đội có phần lúng túng, nhìn Việt trẻ khoẻ, oai nghiêm nên khuất phục, liền bảo 2 người lính đến giúp Việt và Lương đưa cờ lên. Thầy đội và 6 người lính đứng dàn hàng ngang, Lương đứng ở đầu hàng, Việt đứng ngoài rồi ra lệnh hạ cờ quẻ ly, kéo cờ Việt Minh lên …
Khi lá cờ đỏ sao vàng vừa tung bay trước gió, đội cảnh vệ của vua Bảo Đại đã chĩa súng từ xa về phía Đặng Văn Việt và Nguyễn Thế Lương. Khi ấy vua Bảo Đại lúng túng không biết phải xử trí ra sao nhưng Nam Phương hoàng hậu run rẫy kéo áo nói nhỏ với nhà vua rằng: “Bệ hạ! Cách mạng Pháp 1789, vua Louis 16 và hoàng hậu Marie Antoinette vì cho lính bắn người cách mạng mà cả hai bị chém đầu…” Nhà vua nghe xong lập tức ra lệnh: "Chớ, không được bắn, các ngươi mà bắn thì trẫm chết trước đó".
Ngày 23/8, khởi nghĩa ở Huế giành thắng lợi.
Ngày 25 tháng 8, hàng ngàn người tụ tập trước cửa Ngọ Môn xem nhà vua đọc Tuyên ngôn Thoái vị, ông tuyên bố: "muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị".
Ngày 1-9, ông Trần Hữu Dực giao nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng cho Thanh niên Tiền tuyến Huế. Sau 15 ngày 25 phân đội Giải phóng quân được thành lập. Việt là Phân đội trưởng phân đội 1 gồm 36 người.
Khi quân Pháp đổ bộ vào cửa Thuận An, ông đã chỉ huy bao vây chiếc tàu đầu tiên của Pháp định quay lại chiếm Huế, bắt sống một Đại úy Pháp, Đại đội trưởng thuộc Trung đoàn do tướng Alessandri chỉ huy.
Đến tháng 12-1945, khi Pháp tái chiếm Huế, 4 phân đội vũ trang được điều sang mặt trận Đường 9 Trung Lào do Đặng Văn Việt làm Chỉ huy trưởng.
Tại đây, anh đã chỉ huy đánh địch tại trận Mường Phìn, Pha Lan, Đồng Hến, ngăn bọn lính Pháp đánh vào miền Trung nước ta. Sau đó Đặng Văn Việt tiếp tục làm Tham mưu trưởng Mặt trận đường số 7 Thượng Lào…
Năm 1946 anh là Hiệu trưởng trường Quân chính Trung bộ. Nhờ gần nhà Đặng công lo xa liền bảo cưới tiểu thư Lan Hoa. Vừa rước dâu từ Huế về quê Nho Lâm, chưa kịp động phòng thì có lệnh gọi anh ra Hà Nội gấp và vì nợ nước anh đành bỏ tình nhà, xách gói ra đi. Cô dâu khóc khô cả lệ, tẽn tò bởi là gái có chồng nhưng không có được đêm tân hôn, giận dỗi vì chồng nặng nợ nước non, lại dấn thân trong lửa đạn sinh mạng như đèn treo trước gió, biết sau này ra sao. Mấy ngày sau cô xin phép về thăm nhà và gia đình cô trả lễ.
Mối tình ấy dằn vặt anh cả đời.
Năm 1953 anh lấy vợ.
Năm sau cô Hoa lấy chồng – một vị Thứ trưởng Bộ Lương thực.
Anh là một dũng sĩ tài trí hơn người, vì nước dấn thân gạt bỏ cả tình riêng. Hiếm thay! Thật là một gương sáng cho muôn đời.
2018