(Dựa theo một câu chuyện có thật của nhà báo Nguyễn Huy Cường)
Người ta quen kêu ông là Tư Đen! Nhưng ông đâu có đen? Ngược lại là đằng khác! Một người đàn ông cao ráo, có nụ cười hiền thật khó quên!
Kêu là ông Tư Đen bởi ông kiếm sống bằng nghề lội trong những con kênh nước đen ngòm, lầy nhầy để mò những vật dụng mà người ta ném xuống vì nhiều lí do khác nhau! Có vật là đồ phế thải. Có vật do người ta lỡ đánh rơi khi đi tàu, thuyền. Lại có không ít vật được ném xuống sau biến cố 30.4.1975…
*
Hồi ấy, hằng ngày, anh Tư cứ thủng thẳng lội từng bước trong những con kênh nước đen, anh lội tới đâu thì bọt sục lên ào ào một mùi tanh tưởi đến đấy, nhưng anh vẫn bình thản như không… Anh Tư kéo theo một chiếc thuyền tôn nhỏ hoặc một cái chậu nhôm lớn để đựng tất cả những thứ “đồng nát” mà anh mò được dưới lòng kênh. Có khi anh dẫm phải cả những miểng kính, miểng chai đổ máu như chơi… Vậy mà anh không thể đi ủng, không thể mặc đồ bảo hộ. Hỏi thì anh cười:
-Đôi chân trần vừa là “mắt” vừa là “tay” của tôi, đi ủng thì sao phân biệt được que củi với cây dao inox?
Những thứ anh mò được thì kể không xiết. Có thể là những chiếc bình tông Mĩ, những chiếc bật lửa Zippo, những chiếc dây lưng lính Mĩ, thẻ bài lính Mĩ, dao găm Mĩ, những chai rượu Tây còn nguyên đai nguyên kiện, những hộp y cụ còn tốt và cả… vàng bạc. Một lần, anh vớ được một hòm đạn đại liên của Mĩ. Thấy nặng trĩu, anh bèn mang về nhà, rửa sạch, lau khô và thận trọng mở nắp ra thì… cha trời, đầy một hòm vàng gồm cả vàng lá, dây chuyền, vòng tay, nhẫn… Điều thú vị là ngoài vàng còn có một bó nhỏ thư từ. Anh mở ra đọc thì biết chủ nhân là một người phụ nữ Sài Gòn tên Mai có chồng là sĩ quan VNCH đóng ở Pleiku…
Theo
Theo địa chỉ ghi trêm bì thư, anh tìm đến nhà Mai ở Sài Gòn, nhưng ngôi nhà đã có chủ mới từ sau 30.4 và những người xung quanh không ai biết người phụ nữ tên Mai là ai cả!
Anh lại lập tức lên Pleiku và tìm đến địa chỉ nơi ngày xưa chồng Mai đóng quân. Cũng không có tin tức gì!
Không nản! Anh ra chợ Pleiku và hằng ngày lần mò dò hỏi tung tích của Mai.
Cuối cùng, sau hai tháng kiên nhẫn dò tìm, anh được một bà tiểu thương cho biết:
-Có một người phụ nữ tên Mai hằng ngày đến bỏ mối bánh ngọt cho tiệm bánh ở bên cạnh chợ, không biết đó có phải là người mà anh cần tìm không?
Anh bèn đợi đến sáng hôm sau, khi người phụ nữ tên Mai đến bỏ mối bánh xong thì bí mật bám theo Mai về nhà. Anh đứng lặng trước một túp lều tồi tàn và trân trối nhìn hai mẹ con Mai. Mai còn trẻ, đứa con gái nhỏ của Mai chừng 5 tuổi thấy mẹ về đang rối rít “Má, má…”.
Rồi làm như tình cờ đi qua nhà Mai, anh hỏi:
-Chị có nước uống, làm ơn cho tôi xin một miếng!
Mai nhìn ra, mỉm cười:
-Anh đợi chút!
Rồi Mai mang ra cho anh một chai nhựa đựng nước, nhỏ nhẹ:
-Nước nhà em tự nấu để nguội, anh uống đỡ!
Nhấm nháp mấy ngụm nước nhỏ xong, anh hỏi:
-Chị có quen biết ai nguyên là sĩ quan VNCH tên Thái không?
Mai giật thót, mặt tái mét, run rẩy:
-Thưa ông… Ông tha tội cho má con tôi…
Anh mỉm cười, trấn an:
-Chị đừng sợ, tôi chỉ là người lao động đi tìm người thân thôi!
Mai vẫn chưa hết run rẩy:
-Vậy thưa ông, ông cần chi ạ?
Anh nói ngay để Mai yên lòng:
-Tôi có mò tìm được một thùng đại liên vàng trên con kênh nước đen gần cầu N.T, về mở ra coi thấy một bó thư từ gởi qua lại giữa chị và anh Thái nên tôi tìm tới để trả lại cho chị…
Nói xong, anh mở túi đồ đeo trên lưng, lấy ra cái hòm đạn đại liên đựng vàng được anh bọc kĩ trong một cái mền cũ, trao tận tay Mai, nói:
-Chị kiểm lại xem có đủ đồ không?
Nhận cái hòm đạn đại liên, hai tay Mai run bắn, mãi mới mở ra được… Mai cầm xấp thư ấp vào ngực, nấc lên… rồi bất ngờ Mai lao tới ôm chầm lấy anh, nức nở:
-Anh ơi, em khóc không phải vì thấy lại cái hòm vàng không thiếu một chỉ, mà khóc vì trên đời này sao lại có một người tử tế như anh…
Rồi Mai lấy ra một sợi dây chuyền cỡ 5 chỉ trao cho anh, nói trong nước mắt:
-Anh nhận giúp chút quà mọn của mẹ con em…
Anh cười:
-Nếu tham vàng thì tôi đã không tìm lên tận đây để trả lại cho chị!
*
Vừa học xong trường trung học nữ sinh Gia Long thì theo sự xếp đặt của gia đình, Mai cưới Huỳnh Văn Thái, lúc ấy Mai mới 18 tuổi. Biến cố 30.4 xảy ra khi Mai 19 tuổi và đã có một con gái đầu lòng. Chồng Mai đóng quân ở Pleiku. Sau 30.4, Mai “nhét” hết tài sản và thư từ vào một thùng đạn đại liên rỗng, rồi ném đại xuống con kênh trước nhà và hớt hải bồng con lên Tây Nguyên tìm chồng, nhưng chồng Mai đã chết trong đám loạn quân rút chạy trên đường 7. Hai mẹ con Mai đành ở lại Pleiku và sống lay lắt qua ngày nhờ lòng tốt của những chị em vợ lính cùng cảnh ngộ. Được một người vợ bạn lính tốt bụng dạy cho nghề làm bánh ngọt, lại khéo tay và chịu khó nên hai mẹ con Mai cũng tạm qua cơn bĩ cực. Có lần Mai đã liều về Sài Gòn, tìm đến đoạn kênh mà Mai từng ném cái hòm đạn đại liên đựng vàng, nhưng cảnh vật giờ đã khác nhiều, là thân gái chỉ nhìn dòng nước đen ngòm bốc mùi hôi thối cũng đủ rùng mình, Mai lại đành ngậm ngùi trở lại Pleiku.
Trước khi anh về Sài Gòn, Mai xin địa chỉ của anh, nhưng anh từ chối. Mai phải năn nỉ và gần như khóc mếu, nói:
-Chẳng lẽ anh không cho phép mẹ con em được gặp lại anh một lần nữa hay sao?
Anh cười buồn:
-Tôi không có nhà, thiệt mà…
Sau một tuần, Mai đã cùng con gái về Sài Gòn tìm anh và đến lượt hai mẹ con Mai đứng lặng nhìn anh đang ngâm mình trong dòng kênh đen ngòm tanh tưởi…
Hai mẹ con Mai bèn bí mật theo chân anh về chỗ ở của anh. Thấy anh có căn nhà coi cũng tàm tạm, nhưng hình như anh thì vẫn đang sống độc thân…
Buổi tối đó, hai mẹ con Mai bất ngờ xuất hiện ở nhà anh. Anh đứng sững, kêu khẽ: “Trời…”.
Rồi như một thứ định mệnh tiền kiếp, Mai lao tới ôm riết lấy anh, nghẹn ngào:
-Nếu anh không chê thì cho mẹ con em về ở cùng…
*
Mai hỏi:
-Anh ở vậy từ hồi xưa sao?
Anh im lặng, đôi mắt rưng rưng:
-Ngày 27.3.1975, anh cùng vợ và con gái anh lên tàu ở Đà Nẵng để chạy vô Sài Gòn, nhưng rồi trong cảnh chen lấn hỗn loạn, vợ và con gái anh cùng rất nhiều người khác đã rớt xuống biển…
Nghe anh nói, Mai chỉ còn biết cúi đầu, nước mắt lưng tròng…
-Rồi sao anh làm cái nghề cực nhọc, dơ bẩn này?
-Sau 30.4, anh làm chi có quyền lựa chọn? Vả lại, người ta bảo nghề chọn người mà! Nhờ cái nghề này mà anh và em mới nên duyên đó thôi…
Mai lại ôm chầm lấy anh, thổn thức nói trong nước mắt:
-Em vẫn luôn tin rằng có Chúa và giờ thì Chúa đã hiển linh…
*
Những người biết chuyện, nói vui:
-Giờ thì phải kêu ông Tư Đen là ông Tư Đỏ thôi hà…