Linh mục Bùi Quốc Phong – Phó giám đốc Đại chủng viện, sắp sửa đi nghỉ mát dài ngày cho một kỳ nghỉ hè, và nghe đâu vì sức khỏe, có thể cha sẽ không về dạy trong niên học tới, bỗng chết bất đắc kỳ tử.
Người phát hiện là một chủng sinh. Sau khi không thấy cha xuống ăn sáng, đã lên phòng cha xem sự thể: cha đi đâu, hay đau ốm mà không thấy cha xuống nhà ăn? Cửa phòng khoá trong. Người chủng sinh bấm chuông điện và gọi cha một lúc, nhưng không có tiếng cha trả lời, liền xuống phòng báo cho các cha và chủng sinh biết sự việc.
Khi mọi người phá được khóa cửa vào phòng, thấy cha nằm bình thản trên giường. Khuôn mặt vẫn hồng hào phương phi trong cái tuổi lục tuần. Hai tay vòng trước ngực một cách thản nhiên, không có triệu chứng co giật vật vã trước khi chết.
Ai nhìn thấy cái chết của cha cũng thương cảm và tiếc nuối cho cha, vì cha là một Giáo sư rất giỏi về mọi mặt, nhất là môn thần học và triết. Mọi người tự hỏi: không biết cha chết do nguyên nhân nào?
Sau khi xét nghiệm tử thi, bên pháp y đưa ra lời giám định: không có dấu hiệu nhồi máu cơ tim, và tăng huyết áp. Trong máu có hàm lượng thuốc ngủ lớn, ít nhất nạn nhân cũng phải uống từ 4 viên đến 6 viên. Và với hàm lượng như thế, có thể làm nạn nhân chìm sâu vào giấc ngủ mê, làm ngưng đọng mọi sinh hoạt cơ thể và dễ dàng đem đến cái chết.
Lời giám định đó, làm choáng váng cha già Bích và cha Giám đốc. Liệu có sự lầm lẫn nào đây chăng? Tại sao lại có thể xảy ra nông nổi đó với cha Phong!?
Cha linh hướng - Vũ Xuân Bích, ôm đầu suy tư rất lung, để tự hỏi: chẳng lẽ, việc đó lại làm cha Phong sốc đến thế sao? Nếu đúng như vụ sốc đó thì điều này chỉ có mình cha và cha Giám đốc biết mà thôi.
Sau cái chết của cha Phong, cha Hoàng - Giám đốc đại chủng viện, vẫn thường lui tới cha già Bích để chia sẻ những khúc mắc về cái chết của cha Phong. Cha cẩn thận dặn dò: Chuyện pháp y chỉ có cha và con biết thôi, xin cha đừng rò rỉ ra ngoài, gây ảnh hưởng không tốt cho ngài và giáo hội. Còn bên pháp y, con cũng đã dặn kỹ là không được tiết lộ, đồng thời yêu cầu xét nghiệm lại lượng thuốc ngủ trong máu. Và việc cha dùng quá liều thuốc ngủ hay tự tử vẫn còn là một ẩn số?
Nhưng dù sao, với vai trò linh hướng, cha Bích hiểu con người và tính tình của cha Phong – con của cha, hơn ai hết.
***
Ngày đó. Cha xứ Xuân Bích nhận được thư giới thiệu của một cha bạn, về trường hợp đi tu muộn của Phong để nhờ cha linh hướng. Vì Phong thuộc giáo phận của cha Bích nên thuận tiện hơn trong việc giúp đỡ Phong.
Hồi đó, Phong là một chàng trai hiền hòa trong cái dáng mảnh mai của một thư sinh, hơn là một chủng sinh. Da trắng hồng nõn nà như một cô thiếu nữ. Thêm cặp kiếng cận càng điểm tô thêm dáng trí thức, văn vẻ. Ở bộ đời chắc nhiều cô chết mê?
Vừa tốt nghiệp Đại học Văn khoa ban triết thuộc loại ưu, và được giữ lại làm phụ giảng - để sau làm giảng viên thực thụ Đại học. Người mẹ rất tự hào, khi con mình được vinh dự đó, vì điều đó cũng giúp cho con bà có được chút môn đăng hộ đối với ông bà đại gia Vĩnh Lợi nổi tiếng ở Sài Gòn này. Thực ra, đó cũng là nơi quen biết - dân đồng hương đồng khói ở chốn Đông Đô Hà Nội khi xưa, nhà kề cận nhau.
Vì hai gia đình là chỗ thân quen, nên đôi trai gái rất tiện lợi để gặp gỡ tìm hiểu nhau. Diệu Hương vừa bước vào học năm thứ hai đại học Luật kinh tế. Và hai gia đình dự tính sau khi Diệu Hương tốt nghiệp sẽ tiến đến hôn nhân cho hai đứa.
Thế rồi bỗng đùng ra, Phong đổi ý đi tu, khiến mẹ Phong hốt hoảng lên:
- Anh là người nhớn rồi, đừng có đùa như kiểu con nít như thế! Bây giờ tôi biết ăn nói sao với đảng nhà gái đây? Phong thưa với mẹ:
- Chẳng qua hai đứa con cũng chỉ mới quen nhau đi lại, chứ đã có đề đính chi chuyện người lớn đâu mà mẹ cứ quan trọng hóa vấn đề cho nghiêm trọng.
- Không nghiêm trọng sao được. Hai bên là chỗ đi lại thân tình, mặc dầu chưa nói với nhau chuyện người nhớn, nhưng cũng ngầm hiểu với nhau rồi.
- Nhưng thực ra chuyện này hoàn toàn do mẹ sắp xếp, áp đặt nhiều lần, con mới phải vâng lời mẹ đấy thôi, chứ có phải con chủ động đâu?
- Giời ơi! Chuyện của đời anh mà anh lại đổ vấy lên đầu tôi, tôi còn biết ăn nói sao hả giời!
Ba của Phong điềm tĩnh hơn:
- Có gì nghiêm trọng đâu mà bà la làng lên vậy? Chuyện đâu còn có đó. Nếu qua tìm hiểu thằng Phong không yêu, chuyện đi tu là lẽ thường tình thôi.
- Nhưng tôi hỏi anh. Từ trước đến nay không nghe anh nói đến chuyện đi tu. Bây giờ, bỗng dưng anh đột ngột anh đi tu là thế nào?
- Tự con cảm thấy không phù hợp với đời sống hôn nhân, nên con xin đi tu, có gì là chuyện lạ đâu hả mẹ!
Thực ra, con nhà đạo, chuyện đi tu là một việc hết sức đáng trân quý và vinh dự cho mọi nhà đạo. Gia đình nào cũng ước ao, muốn có con đi tu, để trước là phúc đức cho gia đình, sau là vinh vang với đời: có con làm cha, làm cụ, và bố mẹ thì được gọi là ông bà cố. Tự hào và hãnh diện với đời lắm!
Mẹ của Phong không phải không biết chuỵên đó, song vì tính đàn bà thực dụng, ai mà chẳng hám lợi danh: rớt vào gia đình nhà đó, chẳng khác chi chuột rơi vào chỉm nếp, vừa giàu sang, vừa có thế lục để thăng tiến vinh thân phì gia thì khỏi phải nói.
Có lẽ, chuyện khó chịu của mẹ, không làm Phong khó xử bằng việc cắt đứt tình cảm với Diệu Hương để đi tu. Chắc sẽ làm cô ấy sốc lắm! Quả thế, thật lòng Diệu Hương rất yêu Phong, vì thế khi nghe tin báo Phong đi tu, cô rất sầu khổ. Nhưng vì là con nhà đạo, nên cũng không quá bi luỵ vì chuyện bẽ bàng duyên phận. Thôi thì hy sinh mối tình riêng cũng là đẹp lòng Chúa vậy.
Đó là hiện trạng vướng mắc trước khi đi tu, mà chính Phong đã bày tỏ cho cha linh hướng biết rõ ngọn nguồn, và mọi chuyện cũng đã ổn thoả giữa hai bên.
Chuyện đỡ đầu linh hướng cho người con đi tu, thực ra, chẳng có chi là quá phiền toái cho một linh mục ở một giáo xứ. Có chăng, là phải lo chi phí trợ cấp ăn học - nếu có thể, là gánh nặng đối với một cha linh hướng phải trăn trở mà thôi. Nhưng trường hợp của Phong, gia đình khá giả, điều đó không phải là vấn đề để cha linh hướng phải ưu tư.
Quanh năm ở Đại chủng viện. Hầu như mọi chuyện ăn ở tu đức và học hành đã có Đại chủng viện quán xuyến. Chỉ có ba tháng hè về giúp xứ, lúc đó nhiệm vụ của cha linh hướng là bảo ban, dẫn đường chỉ lối trong việc tu đức khi gặp những điều rắc rối khó khăn của một tu sinh phải đối mặt với chuyện đạo đời mà thôi. Đối với Phong, điều làm cha linh hướng thầm lo: Phong đẹp trai, dễ mến, không khéo mình làm công cốc vun xới, khi đến ngày sắp thành quả thì lại bỏ tu ra đời.
Nhưng rồi sau năm kỳ nghỉ hè về sinh hoạt trong giáo xứ đã làm cha khá yên tâm, khi thầy Sáu Phong làm việc, phục vụ rất hăng hái nhiệt tình nhưng không kém phần tinh tế nhã nhặn trong giáo xứ, khiến ai cũng mến. Cha Bích lo nhất là, khi thầy Sáu tập hát cho các ca đoàn, tiếp xúc nhiều với phái nữ, mà ca viên vừa trẻ lại vừa xinh đẹp. Điều này trước đó, hai thầy con cha cũng đã ra đời vì chuyện ái tình nên cha lo cho thầy Sáu Phong là không thừa. Nhưng rồi sau một thời gian sinh hoạt với ca đoàn, cha khá yên tâm.
***
Thầy Sáu Phong, vốn là con người luôn nhỏ nhẹ hoà nhã với mọi giáo dân, nhưng với phái đẹp, thầy lại tỏ ra nghiêm nghị, không bồng đùa, cười cợt và luôn giữ một khoảng cách an toàn: không gần gũi, không suồng sã. Khi tiếp xúc với phái nữ không bao giờ một mình trong phòng riêng, điều này khiến nhiều cô tưởng bở, bồng đùa ba lơn đã bị thầy Sáu sửa lưng cho khá bẽ mặt. Đến nỗi phái nữ đã tặng cho thầy tên gọi là thầy Sáu tủ lạnh, điều này càng làm cha xứ thích thú để tự nhủ: có đề cao cảnh giác như thế, may ra mới tu trì được chứ!
Còn cánh nam. Đàn ông thì khoái thầy lắm. Vì thầy luôn gần gũi, dễ chịu, hoà đồng và thoải mái với các lớp thanh niên, trung niên trong khi sinh hoạt: ca hát, làm hang đá, làm bài giáo lý, thể thao, bóng đá, văn nghệ…Làm việc, ăn ngủ nghỉ, thầy không phân biệt đấng bậc thầy với giáo dân; Đến nỗi, cha xứ phải can ngăn: “Thầy dễ dãi như thế với giáo dân, coi chừng bị mất uy, sau khó làm việc lắm đấy!”. Thầy chỉ cười xòa: “Thì phải hoà đồng như thế mới biết được tâm tư nguyện vọng của họ để có thể ứng xử được chứ bố!”. Thầy vẫn gọi thân mật với cha linh hướng như thế.
Học hành giỏi giang - xuất sắc là đàng khác, lại hiền lành và đạo hạnh trong tu đức, cha linh hướng đâu còn chi để lo âu cho ngày lên bàn thánh hiến.
Thế rồi cha linh hướng thật bất ngờ, khi được cha Giám đốc mời đến để giải quyết thư phản ánh về chuyện quan hệ bất chính của thầy Sáu Phong khi còn ăn ở chung với các chủng sinh. Vì thế mà cha giám đốc đã phải tham khảo ý kiến cha linh hướng:
- Khi thầy Sáu Phong về giúp xứ cha, có biểu hiện như trong thư phản ảnh không thưa cha?
Chính cha linh hướng cũng xác nhận là trong năm mùa hè về giúp xứ, thầy Sáu Phong rất nghiêm túc trong quan hệ tình cảm. Chính cha cũng phải khen thầy là đàng khác.
- Hay có chuyện tư thù cá nhân để vu cáo nhau chăng? Hơn nữa người tố cáo đã xuất tu rồi, nên không biết có đáng tin cậy chăng?
Việc xét phong chức linh mục cũng lắm điều nhiêu khê, phức tạp và khó biết thực hư như thế nào? Cũng từng có những thầy Sáu bị oan, khi những thư phản ánh sự việc cực đoan theo chủ quan của mình, khiến nhiều thầy đã chuẩn bị đầy đủ thiệp mời, đặt tiệc tùng xôm trò thì bị đình chỉ một cách cay đắng tức tưởi.
Và rồi dư luận giáo dân được dịp thêu dệt đủ điều xung quanh sự vụ đó. Hay có dở có, và thậm chí là một số giáo dân bức xúc viết thư lên Đấng bản quyền, để bênh vực quyền lợi cho tu sinh ấy. Còn các tu sinh bị phản ánh thì buồn như chó chết con, ủ rũ nằm nhà như kẻ có tội, không dám vác mặt đi đâu, sợ làm cái cớ cho giáo dân đàm tiếu.
Chính cha Xuân Bích cũng nhận thấy cái cách làm dân chủ và công khai hoá, có cái hay là tránh khỏi được sự lầm lẫn đáng tiếc trong việc tuyển trạch lên phẩm hàm MenKixede - thầy cả muôn đời, nhưng cũng đầy nghiệt ngã cho những tình trạng oan sai của các chủng sinh; Vì điều đó, vô tình xúc phạm đến nhân bản của con người với bao nhục nhã, đắng cay ê chề, đến mức đã có tu sinh chịu đựng không nổi áp lực để tự tử.
Và rồi có lắm người chê trách trả miếng: “Hèn chi mà Chúa không chọn”. Nhưng họ có biết đâu, việc tuyển chọn chức thánh cũng rất thế gian đời thường với nhiều cảm tính riêng tư, đố kỵ lẫn nhau: người Nam, người Trung, người Bắc cũng có những kỳ thị, thế thần ô dù nhiễu nhương cũng lắm! Thế mà mọi việc cứ đổ cho Thánh Ý Chúa không chọn, quả thật là oan cho Chúa!?
Thành ra với chứng cớ không đầy đủ, và hơn nữa có sự bảo lãnh của cha linh đạo, nên các Đấng thẩm quyền cũng cho qua để thầy Sáu Phong lên bàn thánh hiến.
Bây giờ sau cái chết của cha Phong, cha già Bích mới thấy mình có trách nhiệm trong việc bảo lãnh cho cha Phong. Thực ra lúc đó, nếu thầy Phong không được chịu chức linh mục, chính cha linh đạo cũng ê mặt chứ chẳng riêng gì thầy Sáu. Đổi lấy sự vinh vang chắc chắn là dễ hơn chấp nhận sự bỉ cực. Thật tình, cha già Bích đâu ngờ sự việc sau lại xảy ra như vậy.
Sau đó, cha Phong được đi du học Rôm nên mọi chuyện cũng rơi vào quên lãng.
Một thời gian sau. Vì nhu cầu phát triển mở rộng Đại chủng viện, nên cha già Bích được chuyển về giảng dạy.
Cha Phong sang học bên Rôm rất giỏi và trổi vượt so với bạn học cùng khoá. Nhất là tiếng Ý, ngài nói rất lưu loát, nên cha thường được mời đi giảng phòng cho các cha hay các tu viện nam nữ.
Đó cũng là niềm tự hào cho các linh mục người Việt sang du học bên tây được thơm lây, vì được các cha bạn bè các nước nể phục con người Việt Nam. Nhưng rồi sự nổi tiếng đó cũng kéo theo hệ luỵ: nếu có chút tì vết, lầm lỗi nhỏ nhoi nào cũng cộng hưởng theo, với tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa.
Chính cha già Bích cũng cay đắng để lờ mờ hiểu qua lời úp mở của cha bạn đi Tây về: “Cha Phong nhà ta giỏi giang nổi tiếng thì không còn bàn cãi. Nhưng phải chi đừng vướng vào cái dụ đó, thì hay biết mấy”. Nói thế rồi cha bạn đánh trống lảng sang chuyện khác.
Có lẽ, vì tế nhị với cha bố của cha Phong, mà cha bạn không muốn nói ra, kể cả khi cha già vặn hỏi, cha bạn cũng chỉ lấp liếm, ỡm ờ: “Đó là mình nghe đồn thế! Chứ không biết thực hư thế nào? Nói ra sợ không đúng sự thật, mang tội chết”.
Đó là lần đầu tiên cha già phải suy tư rất lung về người con của mình. Nhưng lòng vẫn âm thầm cầu nguyện, và cầu mong cho điều đó, chỉ là dư luận, luận dư mà thôi. Cha già không thể ngờ được người con mình lại vướng vào cái tội đang nóng lên trên báo chí và dư luận lâu nay trên thế giới. Một cái tội mà, ngay người đời thường cũng còn dị ứng, chứ chưa nói đến với phẩm trật giáo hội. Còn đối với giáo hội, đó lại là một vấn nạn nhức nhối khiến giáo hội đang phải đau đầu để đối mặt với thực tại đó.
Nhưng rồi ngày về của cha Phong là một cuộc vinh quy đầy hân hoan chúc tụng trong niềm tự hào cho cả giáo phận, chứ chẳng riêng gì Đại chủng viện. Trong niềm vui đó, ánh hào quang đã làm tan loãng đám mây mù chung quanh cha Phong, bảo sao cha già dám đề cập với con mình chuyện đó?
Với học vị đi Rôm về, cha Phong phải đảm trách nhiều lớp ở Đại chủng viện, vì thế cha rất bận rộn với các giáo án cho các lớp học. Rồi hết Đại chủng viện này đến Đại chủng viện khác mời mọc giảng dạy. Cả đến các hội đoàn tu viện…cũng mời thuyết giảng cấm phòng liên tục, khiến cha con không mấy khi có dịp rảnh rỗi để hàn huyên tâm sự. Mà thực ra, nếu có điều kiện chuyện trò, liệu cha già có dám đề cập đến vấn đề nhạy cảm đó không?
***
Nhớ lại ngày nào… Tình cha con lúc nào cũng thân mật cởi mở. Có chi cha con cùng hàn huyên tâm sự với nhau. Nhưng rồi càng ngày, phần vì bận rộn với công việc, và hình như cha Phong cũng nhân đấy, tránh né gặp bố. Có lắm thì: “Con chào bố! Lâu nay bố vẫn khoẻ chứ ạ! Con bận quá, không thăm bố thường xuyên được. Mong bố thông cảm cho con”. Cha bố biết rằng: tình cha con chẳng còn thân thiết như hồi xưa được nữa rồi.
Thời gian bình lặng theo năm tháng trôi qua, khiến cho cha già mừng thầm là tai qua nạn khỏi; Bởi bây giờ, cha Phong lại được thăng chức lên làm cha Phó giám đốc Đại chủng viện; cha già hy vọng càng lên chức cao, cha Phong càng phải giữ gìn ý tứ đạo hạnh hơn người.
Ai cũng phải thừa nhận: cha đầy năng lực và nhiệt tình trong công việc giảng dạy. Chính cha Giám đốc cũng tỏ ra rất hài lòng về cha để thổ lộ với cha già: “Từ ngày cha Phong lên làm cha Phó đến nay, con đỡ vất vả hơn nhiều. Hầu như cha Phó quán xuyến hết mọi việc, từ giảng dạy đến quản lý, nơi ăn chốn ở cho các chủng sinh đâu vào đó. Cha lại hiền hoà, nhã nhặn, và biết lắng nghe lời góp ý của bậc trên cũng như kẻ giới, kể cả các chủng sinh.
Còn các chủng sinh thì mê tơi cha. Hễ khi nào có cha sinh hoạt: ca hát, quản trò, là không khí vui lên như hội. Trong giảng dạy, cha làm cho chủng sinh vừa vui vừa học. Khi nào căng thẳng trong các môn thần, triết, cha kể chuyện tiếu lâm thư giãn, rồi mới vào bài. Các cha có điều gì cần tham khảo hỏi han về thần học hay sách vở, cha giãi bày tận tình và góp ý rất hòa nhã, chứ không tỏ ra ta đây học nhiều biết rộng. Trái lại, cha cũng thường khiêm tốn để nhờ các cha khác tư vấn trong xử lý đời thường, khi gặp những vấn đề gai góc nan giải với các chủng sinh. Nói chung, từ các cha đến các chủng sinh đều không thể chê cha Phó được chỗ nào”.
Cha bố khá yên tâm, khi cha Phong bước vào tuổi lục tuần. Nghĩ cũng thật mừng cho cha, vì thêm tuổi, càng chín chắn và khôn ngoan hơn. Nhưng cha già đâu thể ngờ rằng: sóng ở đáy sông vẫn ngầm cuộn.
Người phản ánh điều này, lại là đứa con của cha già đang tu sinh năm tư tại Đại chủng viện:
- Con nghe mấy đứa bạn nói anh con, cha Phó, bị chứng đồng tính với nhiều chủng sinh.
Cha già choáng váng, tưởng chừng như mình bị trúng gió. Mặt cha trắng nhợt. Hai tay cha rung rung ôm đầu.
- Bố bị gió phải không bố? Để con đánh gió cho bố!
Cha già khoát tay.
- Không sao đâu con, cha chỉ hơi choáng một chút thôi. Thế con có nghe nói mức độ luyến ái ra sao không?
- Mấy đứa bạn chỉ nói là cha ôm hôn mấy đứa thân quen cha, và bị chúng nó cự tuyệt thế thôi.
Dẫu đã biết trước phần nào về điều đó, thế mà khi nghe kể, cha già vẫn cứ bị choáng…
Nhưng rồi cha già chỉ biết âm thầm cầu nguyện, chứ chẳng biết làm sao hơn được. Ngày xưa cha con còn thân mật cởi mở với nhau, mà cha chưa dám trao đổi nữa là…Bây giờ cha Phong lại là cha Phó thì khoảng cách càng nới rộng, để cha già đành bó tay bất lực, nhìn đứa con mình rơi vào một tình thế nguy nan, mà không sao giải cứu được.
Đây là chuyện hết sức nhạy cảm, khiến cha không dám bày tỏ và chia sẻ cho ai hay nỗi niềm. Một đôi lần cha già định thổ lộ cho cha Giám đốc hay, để may ra có thể tìm cách tháo gỡ cho cha Phong. Nhưng rồi cha già vẫn ngại là chuyện chưa ra sao cả, mà mình tự vạch áo con mình cho người khác xem lưng? Có một điều làm cha già băn khoăn là, phải chi cha Phong chỉ là một Linh mục bình thường thì đỡ bị ảnh hưởng biết mấy.
Nhưng rồi một hôm, cha Giám bỗng tìm đến cha già. Trong lòng cha già cũng đã đánh hơi thấy vấn đề. Và quả thật thế, cha Giám đã không ngần ngại để trao đổi:
- Không biết cha già đã hay chuyện của cha Phong chưa?
Dẫu đã biết mười mươi, nhưng cha già cũng làm như chưa biết chuyện gì:
- Chuyện gì vậy hả cha Giám?
- Lâu nay con nghe chủng sinh xì xầm về cha Phong nhà mình vướng vào chuyện đồng tính luyến ái, cha không biết thật sao?
Cuối cùng, cha già cũng phải thú nhận:
- Tôi nghe lâu rồi, nhưng không dám thổ lộ với ai, vì chuyện cũng chưa rõ ràng ra sao cả. Sẵn đây, nhờ cha có phương cách nào, giúp cha ấy thoát khỏi vòng u mê?
Thực tình, cha Giám cũng chưa biết cách nào để xử lý tình huống này, vì đây là một vấn đề nhạy cảm, cần phải tinh tế khi góp ý, nếu không, dễ bị chạm nọc, gây xúc phạm tổn thương đến tự ái của đương sự. Và nếu bị dị ứng, sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường.
- Thế cha con với nhau mà cha già không thể gần gũi góp ý với cha ấy được à?
- Ngày trước thì may ra còn được, chứ bây giờ, càng ngày cha con càng xa cách nên rất khó lòng để góp ý!
Cuối cùng cha Giám gợi ý:
- Cha già thân với cha Phúc như cha con, mà cha Phúc cùng lớp đi du học về, lại chơi thân với cha Phong, may ra cha ấy thuận tiện để góp ý.
Lời gợi ý của cha Giám quả là gỡ bí trong lúc này. Và cha già không chần chừ để tìm gặp cha Phúc.
***
Sau khi hai cha con chuyện trò thân mật vui vẻ, cha già vào vấn đề bằng sự khẩn khoản:
- Thú thật với con, cha muốn nhờ con giúp cha một việc. Nhưng con phải hết sức giữ ý tứ và bí mật.
- Chuyện chi mà quan trọng thế bố!
- Vấn đề hết sức cấp thiết, may ra con mới có thể cứu cha Phong ra khỏi sự dữ u mê ấy.
Đo đắn một lúc, cha già mới thổ lộ:
- Chuyện cha Phong bị vướng vào đồng tính luyến ái mà con không biết sao?
- Tưởng chuyện gì ghê gớm! Chuyện nhỏ đó, có chi mà làm cha phải hốt hoảng lên thế?
Cha già những tưởng nói ra để có người cùng chia sẻ cảm thông nỗi niềm. Ai ngờ cha Phúc lại cho là chuyện nhỏ không đáng kể, khiến cha Phúc nghe sửng sốt lên:
- Trời ơi! chuyện cả thể tày trời như thế, mà con cho là chuyện nhỏ sao?!
- Cha vẫn thường đọc báo và lên mạng thông tin đại chúng đã chẳng từng nghe bên các nước Âu Mỹ, chuyện linh mục đồng tính luyến ái là chuyện thường đó sao?
Cha già sửng cồ:
- Thường sao được. Người không ra người ngợm không ra ngợm, bảo sao là thường được!
- Không muốn thường cũng phải thường chứ biết răng chừ cha. Đó là sản phẩm của xã hội sản sinh ra chứ đâu phải từ hành tinh khác xuống. Họ cũng là con người như chúng ta, nhưng có thể do đột biến gen mà nảy sinh ra chứ ai muốn thế đâu cha. Ngay cả cha Phong cũng đâu muốn vậy!
- Đó là bệnh lý của xã hội, chứ đâu phải là bản chất gen mà cho là bình thường được. Thế con cho rằng đó không phải là sự dữ chăng?
- Con không nói thế. Con nói bình thường là chúng ta phải chấp nhận sự việc để tìm cách giải quyết cho đến ngọn nguồn của vấn đề, chứ không nên phản kháng quyết liệt như thế.
Nghe thế, cha già tỏ ra bức rức khó chịu lắm!
- Nhưng nếu sau này, Y khoa chứng minh được, nó là bản chất đột biến gen thì cha nghĩ sao? Có điều, khi một sự lạ mới xuất hiện, chúng ta chưa quen nên thường dị ứng và lấy làm ghê gớm khủng khiếp, chứ các nước văn minh, họ đã chấp nhận hôn nhân cho những người đồng tính từ lâu rồi đấy!
- Loạn cả lên rồi! Chẳng còn ra cái thể thống chi nữa. Đã thế, con lại còn bênh vực cho những sự dữ như thế, cha cũng không sao hiểu nổi nữa?
- Con không bênh vực cho họ, nhưng là chấp nhận họ bằng một sự thật hiện hữu, mà không ai chối cãi được là họ đang tồn tại trên trái đất này. Và để giải quyết vấn đề thực sự không đơn giản như cha tưởng đâu. Chẳng lẽ chúng ta lại loại bỏ họ ra khỏi xã hội hay sao?
- Nhưng điều này, trái với luân lý đạo đức và thánh kinh!
- Thực ra, với bất cứ điều gì mới lạ, cũng đều dị ứng với giáo hội chúng ta cả. Ngay như việc trái đất quay chung quanh mặt trời, ban đầu giáo hội chúng ta cũng phản kháng quyết liệt để cho rằng: đó là chuyện không tưởng, và suýt đem Galilê lên giàn hoả là gì? Có người từng cho rằng: Thánh Gioan tông đồ cũng có tính chất của người đồng tính đó sao? Xã hội chúng ta đã từng hô hào: “Sống chung với lũ, với những người nhiễm HIV, phong cùi…”, mà có ai la làng lên đâu thưa cha.
Cha già không ngờ mình bị một cú sốc đau điếng đến thế. Nghĩ đến khi nào, là cứ tức anh ách. Mà thực tình trong cuộc tranh luận này, cha hoàn toàn bị đuối lý. Hình như tuổi già làm cha khó tiêu hoá nổi như ý tưởng dung hòa và chấp nhận như thế được.
Đúng là các linh mục đi học tây về có khác. Quan niệm của họ thông thoáng phóng túng quá!? Hay tại các cha già Việt Nam nhà mình quá khắt khe và khắc kỷ? Cha già tự hỏi lòng mình như thế.
Cha già không dám thổ lộ những ý kiến của cha Phúc với cha Giám, vì sợ những lý chứng đó, khiến cha Giám xuôi chiều. Nỗi thao thức của cha già: làm sao cứu đứa con mình ra khỏi cái vòng tục lụy tội lỗi đó, với bất cứ giá nào.
Lần gặp lại cha Giám. Cha già chỉ đánh trống lảng là chưa gặp được cha Phúc. Rồi cha đưa ra đề nghị với cha Giám:
- Bây giờ với cương vị của cha, cha phải làm sao cách ly cha Phong ra khỏi việc giảng dạy, tránh tiếp xúc gần gũi với chủng sinh. Và cách tốt nhất là bố trí cho cha đi xứ, may ra có thể xa lánh được dịp tội.
- Vấn đề không đơn giản như cha tưởng đâu. Quyền đâu nơi con mà dám ngang nhiên cách chức cha Phó được, vì còn có hội đồng Giám mục quyết định nữa. Rồi làm sao khỏa lấp được các giờ dạy của cha Phó để lại?
- Khó thì khó thật rồi. Có khó thì mới phải đặt vấn đề để giải quyết chứ! Tôi nghĩ, cha nên có phương án dự phòng trước, để khi thời cơ đến có thể thay thế ngay. Thực tình mà nói, tôi sốt ruột lắm, khi thấy cha Phong ngày càng lún sâu vào vòng u mê, làm ảnh hưởng đến giáo hội.
Cha Giám cũng chỉ ghi nhận, chứ chưa có được một giải pháp thoả đáng nào.
Rồi bỗng cha Phúc tìm đến. Lần gặp trước, cha già như bị dội gáo nước lạnh, nên bây giờ gặp lại, cha già cũng không mặn mòi để tiếp chuyện. Vừa vào phòng, cha Phúc mở lời:
- Con đã gặp gỡ cha Phong. Nhưng cha có biết khi con mới ngỏ lời góp ý, cha Phong sừng cồ lên như thế nào không?
Cha già bỗng vập vồ câu chuyện:
- Cha Phong nổi giận lên hả?
- Chơi thân với cha Phong lâu năm, con chưa bao giờ thấy cha Phong nổi nóng đỏ mặt tía tai lên như vậy. Cha nổi cáu lên, ném tung đồ đạc trên bàn, rồi đuổi con ra khỏi phòng với câu: “Cút xéo đi! Các người lành thánh lắm mà, chỉ có mình tôi xấu xa thôi”.
- Xem ra như thế thì không còn cách nào để thuyết phục cha Phong được nữa rồi. Chỉ còn cầu nguyện cho cha ấy nữa thôi.
Từ đó cha Phong trở nên trầm cảm, ít nói và hay cáu gắt. Các cha và các chủng sinh cũng lấy làm lạ, để tự hỏi: “Tại sao cha Phong lại trở nên quay quắt với mọi người như thế?”.
Giấc ngủ của cha cũng không còn yên lành, khiến cha phải dùng thuốc ngủ để trợ giúp. Rồi những tháng gần đến hè, cha Phong thường đau đầu để phải bỏ giờ lên lớp.
Dẫu bị cha Phong cáu gắt, nhưng tình bạn đã khiến cha Phúc không thể bỏ rơi cha Phong lúc này được. Cha thường đến để giúp đỡ bạn mình, ăn uống, thuốc thang, và chia sẻ nỗi niềm với cha. Rồi một hôm nọ, cha Phong chân tình thổ lộ:
- Mình biết mình đang phạm một tội lỗi gớm ghiếc và thật đáng nguyền rủa. Ngay cả chính mình cũng không tự chủ được những khi lên cơn như thế. Sau đó, trở lại trạng thái bình thường, mình mới thấy hối tiếc, và day dứt: Tại sao mình lại trở nên tồi tệ như thế? Bây giờ mình không dám nhìn mặt ai nữa, vì có lẽ mọi người đều ghê tởm mình lắm!
- Chuyện nhỏ! Đầy cả trên thế giới chứ có phải mình cậu đâu.
- Nhưng mình là linh mục, lại là cha Phó thì càng tệ hại hơn.
- Thì cũng là con người cả thôi, ai mà không có lúc sai phạm. Điều quan trọng là phải tự biết nhận diện ra mình đang ở đâu, và chấp nhận hiện trạng để dần sửa sai khắc phục. Tránh rơi vào tình trạng bi quan để buông xuôi, làm suy sụp và khủng hoảng tinh thần, khiến cho sự việc thêm tồi tệ và nghiêm trọng hơn.
- Biết thế, nhưng trong tâm tưởng mình đang hết sức lao lung, như có một sự cuống cuồng đảo điên dày xéo.
***
Sau đó cha Phong phải vào viện điều trị dài ngày cho đến mùa hè. Và khi cha hồi phục trở về, chính là lúc cha già hối thúc cha Giám thực hiện ý đồ đã bàn tính sẵn.
Trước khi đi nghỉ hè. Cha Giám mời cha Phong lên gặp, để trò chuyện hàn huyên tâm sự. Thấy cha Phong rất vui vẻ nên cha Giám mới ngỏ lời:
- Con đã bố trí cho cha nghỉ hè ở một giáo xứ gần bờ biển, để không khí thoáng mát cho cha tĩnh tâm an dưỡng. Khi nào cha thật khoẻ, con mời cha trở lại Đại chủng viện.
Cha Phong bắt tay cười vui vẻ, và còn đùa với cha Giám:
- Nếu phong tình phù hợp, con xin đăng ký cha ở ngoài ấy luôn được không cha?
Cha Giám nói chiệu lại:
- Làm thế cha để Đại chủng viện này lại cho ai?
Chỉ hai ngày sau, không ngờ lại xảy ra cái chết bất đắc kỳ tử với cha Phong như thế!
Cha Giám cảm thấy ân hận, vì có thể chính quyết định của mình đã “loại cha ra khỏi cuộc chơi” khiến cha bị sốc, để đi đến cái chết như thế? Nhưng cha Giám ân hận cũng chưa bằng cha già đau khổ để tự đấm ngực:
- Lỗi tại bố mọi đàng. Phải chi, bố bình tâm hơn để soi xét vấn đề. Để từ từ tìm giải pháp thích ứng, trái lại, bố lại quá nôn nóng, để đưa đẩy con bức xúc ra nông nổi, phải chết một cách oan uống như thế này!!!
Châu Sơn ngày 27/02/2008