« Les limites de mon langage signifient les limites de mon monde »
(Những giới hạn ngôn ngữ nơi mình đều có nghĩa là những giới hạn chính cái thế giới của ta)
Ludwig Wittgenstein
(Tractatus logico-philosophicus, 1921)
(…)
Thơ như tiếng lòng trên nền âm hưởng những giao thoa thời đại
Sẽ rất là thiếu sót nếu ta chỉ dừng lại ở mức những nhận xét “trung tâm”, dù rất chủ yếu, về thơ Lê Miên Khương mà bỏ qua các khía cạnh khác, bởi lẽ – tuy ít nhiều mang tính “ngoại vi” – chúng sẽ giúp độc giả có cái nhìn toàn diện hơn. Thơ là người, mà người thì không chỉ có riêng mỗi… cột sống! Cho nên, ngay như đôi khi trông có vẻ hơi “giai thoại” đi chăng nữa, thì những “cái liếc” láu lỉnh, những kiểu nói đầy “uy -mua” v.v. đây đó trên các trang thơ của anh, cũng đáng được ghi nhận: chúng sẽ có tác dụng bổ sung và làm sống động hơn cho cách cảm nhận về tác giả trong lòng người đọc.
Xuân Diệu đã từng định nghĩa:
“Làm thi sĩ, nghĩa là ru với gió,
Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây…”18
Nhưng Lê Miên Khương thì không vậy, mặc dù vẫn rất đa cảm, đa tình, với tư cách một nhà thơ. Thực tế cày xới cật lực của anh trên cánh đồng Tao Đàn mênh mông bát ngát là một “phản biện” cần thiết và cân xứng:
“…Đâu phải sinh ra đã là thi sĩ
Nếu không chắt chiu mài dũa câu thơ
Dẫu tim dâng sóng tràn ngập cõi bờ
Phải vắt lòng mới thành lời thánh thót.” (HXMNB, tr.15)
Nó còn giúp ta hiểu hơn thế nào là quá trình thai nghén các tác phẩm nghệ thuật nói chung, dựa trên kinh nghiệm “mồ hôi nước mắt” của một người đã sống hết mình với thi ca:
“…Bạn nghe chăng tiếng nàng thơ thút thít
Đang quặn đau nơi sâu thẳm tế bào
Nếu con tằm không cần mẫn nhả tơ
Đời sao có óng ả tấm lụa đào!...” (nt)
Tấm lụa đó, rõ bõ công và đáng yêu thật. Nhất là nó không đơn điệu, mà vô vàn biến hóa, trong trường hợp của anh.
Bạn muốn dẫn chứng ư? Này nhé, cho tới đây, ta đã quen với một Lê Miên Khương từ tốn, sang trọng, tỉ mỉ trên từng nét hoa văn hay con chữ anh nắn nót. Một đặc điểm chung cho khá nhiều sáng tác khác nhau, như ta có thể nghiệm thêm lại nữa ngay bây giờ, qua mấy câu trích dẫn hoàn toàn theo ngẫu hứng:
“Này đôi mắt ngủ trên cây
Vầng mi chớp mở gọi mây bay về
(…)
Giọng ca em rót trên cao
Ðộng lay hạt nắng rớt vào tim anh…” (MTCA, tr.49)
(…)
“…Môi còn hương nụ đê mê
Mười năm một giấc chiêm khê chưa tàn
Mùa thu em có soi gương
Mặt hồ tĩnh lặng đọng sương thu chiều…” (sđd, tr.56)
(…)
“…Phiền tôi lụy muộn với đêm
Bước ra ánh sáng ngưỡng chiêm ngọc ngà
Dáng em yểu điệu tiên sa
Làm tôi quỳ níu chiều tà quạnh hiu…” (HXMNB, tr.29)
Thế mà, đến một lúc nào đó, nhà thơ đột ngột “thoát xác” để nhập vai mới: đổi hẳn tiết tấu nhịp điệu – thậm chí cả ngôn ngữ – trong một bước khai phá rời xa tâm điểm, vừa như để tiếp cận tình yêu theo lối khác, vừa như muốn cách tân trên phương diện hình thức. Đây là một nỗ lực đáng quý. Bên cạnh đó, để tiến tới một cái nhìn thật bao quát, người đọc thơ anh còn muốn chia sẻ thêm cảm giác này: đằng sau sân khấu thi ca của tác giả, thỉnh thoảng hình như cũng thấy thấp thoáng bóng dáng của một “hậu trường văn học”, vốn thiết yếu cho bất cứ quá trình hình thành sáng tạo nào. Điều ấy không có gì là lạ, mà chỉ khẳng định quy luật về mối tương quan mật thiết giữa một bên là cái rất riêng đặc thù của chủ thể và bên kia là xu hướng chung, hoặc tác động gần xa của môi trường thời đại…
Hãy nghe Lê Miên Khương “ríu rít” tâm sự, trong bầu không khí hân hoan vừa mới được tái tạo:
“Người tôi thương rất hồn nhiên
Hồn nhiên như suối kiếm miền sông xanh
Hồn nhiên em hát bên ghành
Như con sáo nhỏ trên cành líu lo
Tuổi đôi mươi chẳng so đo
Nói cười duyên chẳng vòng vo núi đèo…” (MTCA, tr.63)
Rồi chàng nhanh chóng tự thú, chẳng chút do dự hay… “vòng vo Tam quốc” gì hết (y hệt người đẹp trong thơ):
“… Số phần nghiệt ngã tôi bèo
Gặp em. Tôi đã hai màu tóc sương
Thế mà mắc sợi tơ vương…” (nt)
Từ “bèo” ở đây thật đắc địa, khó kiếm ra tiếng nào bình dị và … cập nhật hơn! Lối nói “bình dân” có nghiên cứu kỹ càng này, anh còn tiếp tục đưa vào những khúc “tự thán” khác, có thể nói là “nghìn dặm cách xa” lối văn trau chuốt mỹ miều mà ta đã gặp, như trường hợp này:
“Tôi viết tặng em một bài thơ
Thay lời nói hộ bao ước mơ
Em không đọc và em đã đốt
(…)
Tôi gởi tặng em một đóa hồng
Cánh hoa đỏ rực lòng tôi đó
Em không nhận và vứt trôi sông
(…)
Tôi biết đời tôi từ nay sẽ
Đơn thân lầm lũi giữa bụi đời
Anh hùng hảo hớn còn suy lụy
Huống gì tôi thằng nhỏ dở hơi.” (MTCA, tr.12)
Chuyện tình bây giờ sẽ không còn đi đến hồi kết theo kiểu ước lệ ngày trước, chẳng hạn như không thể để cho chàng trai ủ rũ thốt lên rằng:
“…Cố nhân - tôi sẽ gọi em
Mùa tang lá rụng thu đêm vào vườn…” (sđd, tr. 57)
Mà cái thay đổi là ở trong thái độ. Ngay cả khi phải chấm dứt cuộc tình sau nhiều tháng năm gần gũi, tác giả cho thấy vẫn giữ được sự bình thản, nhẹ nhàng, nếu không nói là có phần quảng đại và minh triết trong đó nữa:
“…Thu ơi thu lại đến rồi
Mỗi năm một lượt với tôi em về
(…)
Không ngừng nghỉ thời gian ơi
Đẩy tôi về phía tuổi đời mùa thu
(…)
Ngày mai tôi sẽ ra đi
Cũng không nuối tiếc những gì đã qua
Đời tôi một giấc mơ hoa
Cảm ơn thu đã tặng quà đời tôi.” (sđd, tr.54-55)
Tương tự, dưới tựa đề Xin Đừng Yêu Anh, nhà thơ cũng biết lấy trước khoảng cách như thế đối với những gì có thể xảy đến, bằng một giọng khá dí dỏm và một ngôn ngữ không kém phần hiện đại:
“… Xin vòng tay hãy lỏng chùng
Ðể tình rớt lọt ra vùng không anh
Phương nào đừng có trời xanh
Cho anh tới đó, chòng chành cõi riêng
Thôi mà. Tình muộn ưu phiền
Mặt trời không nóng từ miền phía anh
Quả đỏng đảnh hãy còn xanh
Nên tình chưa chín như cành phía em… ” (sđd, tr. 50)
Nói “vùng không anh” là nói theo kiểu … toán học. Nhưng những “quả”, “cành”, “mặt trời”, thì đúng 100% thực tế cuộc sống. Và cái ý tưởng muốn hòa nhập với thiên nhiên, tiệp màu cùng hệ sinh thái, lại càng dễ thấy hơn nữa trong bài anh viết Vì Mình Lá Hoa mà âm điệu nghe rất gần với ca dao đồng nội:
“…Nếu khô hạn đất hiếm xanh
Xin cho tôi được làm cành thanh long
Nếu tôi số phận long đong
Khổ qua xin chọn, chứ không bồ hòn
Nếu là tinh tú cỏn con
Xin làm trái khế vàng năm góc hình…” (sđd, tr. 41)
Dấu ấn nông thôn vốn luôn luôn có mặt trong thi ca, từ trước đến giờ. Thơ Lê Miên Khương, vì thế, cũng có lắm câu như muốn thôi miên, lôi ta chìm đắm trong khí hậu cội nguồn thân thương ấy:
“… Dặm trường mây phủ sơn khê
Anh đi còn nhớ bờ đê quê nhà
Mẹ già luống cải vườn cà
Chăm lo, vun xới. Cơm và nhớ anh!...” (HXMNB, tr.49)
Tác giả còn đi xa hơn nữa, về nội dung lẫn hình thức. Điển hình là bài thơ ngắn mang tên Xuân Nhớ Quê này, sáng tác theo thể “sáu chữ ba câu” khá mới mẻ, một dạng «hai-ku» cây nhà lá vườn đúng điệu:
“Đã lâu không về Quảng Ngãi
Xuân này em gởi mạch nha
Anh nhâm nhi. Nhớ quê nhà
Tối qua cành mai ngậm nụ
Sáng nay vàng đã nở òa
À, thế là Tết đang qua.” (MTCA, tr.17)
Thế rồi, từ trong không khí êm đềm, đậm chất dân dã ấy, nhà thơ của chúng ta thoắt bỏ đi ra ngoài, dùng «độc chiêu» nhảy sang vùng đối cực – có thể, nhưng không nhất thiết, nằm trên xứ người – để cho ra đời những khổ thơ… «lai tạo» có chứa luôn cả từ tiếng Pháp, như trường hợp bài lục bát Rồi Anh Chọn Chữ Ghép Vần dưới đây, tươi rói lạc quan, pha lẫn với đôi chút tinh nghịch:
“ Ước gì trong kiếp hồi sinh
Dây tơ lại nối cuộc tình dở dang
Anh nào hứa hẹn gì đâu
Mà sao em đợi mưa ngâu bay về
Vì cặp bồ câu tỉ tê?
Ở trên mái lá đê mê kết tình!
(…)
Em ơi mình phải kiệm lời
Như người từ mẫu một đời chăm con
Đến khi bày tỏ lòng son
Thì anh sẽ nói ngọt câu em chờ!
Nên giờ mình cứ bơ vơ
Để hoa kết trái để thơ kết vần
Để đá kết nhụy huyền trân
Rồi anh chọn chữ ghép vần Je T’aime!” (sđd, tr. 59)
Trong cùng không gian tình tự ấy, nhưng với nhịp điệu khác, tác giả cũng đã để nguyên dạng một từ tiếng Pháp – tên loài hoa ướp hương một vùng kỷ niệm của anh – trong bài Lời Chào Thơm Mùi Tilleul hoàn toàn theo thể thơ tự do, như chính cái nội dung ý tưởng thông thoáng mà nó chuyển tải:
“Tôi gởi cho em
lời chào thơm mùi hoa tilleul
(…)
Em với tôi
có duyên mà không nợ
Thì đường em đi
chúc đẹp mãi xuân thì
(…)
Ðời ngắn lắm
hãy bằng lòng với những gì ta có
Còn ngày mai?
Hãy để cho gió
mang lên cao niềm tâm nguyện
Và đưa ta về một cõi bình yên. ” (HXMNB, tr.86-87)
Cảnh và từ có hóa Tây thì cứ Tây vậy, nhưng hồn thơ trong đoạn trên thì lại đưa ta thẳng về chân trời nhạc Trịnh, theo dư âm của cái điệp khúc giản dị mà khó quên này:
“ Sống trong đời sống
Cần có một tấm lòng
Để làm gì em biết không?
Để gió… cuốn đi…” (Để Gió Cuốn Đi, Trịnh Công Sơn)
Bình thường, Lê Miên Khương không thuộc mẫu người hay bông đùa; thế mà với tình yêu, đôi khi anh dám viết những lời khá ngộ nghĩnh như trong bài Sợi Tình Rắt Reo:
“Đầu năm giở lịch ra xem
Trở trăn ngày tháng nơi em có buồn
Lòng anh đường dốc trượt tuôn
Đường xa hiu quạnh bốn mùa lắt lay
Thôi ta hãy chọn… một ngày
Ngày lành tháng tốt để… xoay đời mình…” (MTCA, tr.62)
Vậy thì, biết đâu, đấy chẳng phải là bỡn cợt mà do từ bên trong, nhà thơ đã… đổi chiến lược để xoay sang chuộng óc thực tế, nhằm đạt hiệu quả cao hơn chăng? Dẫu sao thì đã có lúc anh nói năng đầy quyết đoán, kiểu thế này:
“…Cuộc đời hai nửa vòng tay
Nếu không ôm chặt thì ngày sẽ trôi
Suối sông khi lở khi bồi
Duyên tơ chỉ thắm trời trao hãy cầm ! ” (sđd, tr.34)
Hoặc ra sức thuyết phục đối tượng bằng mọi cách, kể cả… gây áp lực:
“…Lá đâu che hết hoa xinh
Sao ta giấu mãi cảm tình cho nhau!
Đừng lưỡng lự lỡ mai sau
Tình duyên khô cạn, mưa ngâu chẳng về! (sđd, tr.58)
Mặt khác, hình như chưa bao giờ bạn bè thân quen thấy anh tiếc than chuyện gì. Điều đó không sai, ngoại trừ với tình yêu! Bởi vì trong lãnh vực này nhà thơ đã có lần phải thú nhận:
“Phải chi ngày ấy tôi liều
Yêu em dám nói bao điều trong tim
Thế mà tôi cứ lặng im
Để cho cau rụng chim bìm bịp bay
Thế rồi từ đó đến nay
Cứ mang nuối tiếc, buồn dày vò tôi…” (sđd, tr.45)
Và dĩ nhiên, tâm trạng đó đẩy tác giả đi đến chỗ vọng tưởng:
“…Ước gì trong kiếp hồi sinh
Dây tơ lại nối cuộc tình dở dang…” (sđd, tr.35)
Trong một hoàn cảnh như vậy, chỉ có nàng Thơ mới giúp được anh: có thể nói hình tượng lá chẳng hạn trong tác phẩm Lê Miên Khương không trung tính hay ngẫu nhiên, mà là một chọn lựa vừa đậm nét đặc trưng vừa mang sắc thái một cuộc thoát ly rất ư … «phải đạo». Nó làm vơi bớt những muộn phiền gặp phải trên đường tình, nhẹ gánh nhân sinh, nhờ tác giả biết vận dụng thủ pháp hư cấu hóa sự kiện một cách bóng bẩy, nhẹ nhàng và nhất là đầy từ tâm. Từ cõi người, nhà thơ bước sang thế giới của lá, mà anh nhân cách hóa rất tự nhiên:
“ Mùa buồn lá rụng ven sông
Lá nằm lá thở tôi không biết gì
Nhìn chim vỗ cánh thiên di
Đâu ngờ lá khóc, tôi đi hững hờ …” (HXMNB, tr.18)
Cuộc gặp gỡ tình cờ biến thành cuộc đối thoại đầy ý nghĩa, dù là dưới dạng “người nói lá im”:
“… Lá thèm nghe sóng trường thiên
Nắng không đủ sáng đông miên mù lòa?
Lá tôi ơi đừng chua ngoa
Một đời lá đợi bước qua luân hồi…” (nt)
Để rồi chấm dứt trên một đề nghị quả là… vượt hết mọi dự kiến:
“Lá hoài vương cuộn chân tôi
Thì tôi và lá kết đôi. Nhé mình! (nt)
Bài Lá Khóc này – nhất là câu chót, với dấu chấm tuyệt vời, như cánh cửa được khép lại, tạo độ căng – có đủ sức gây ngạc nhiên để ta nghĩ rằng, nếu tính theo mức gieo…”cú lạ”, thì Lê Miên Khương ở đây có vẻ còn «mạnh tay» hơn cả chính Bùi Giáng, là nhà thơ anh hằng ái mộ và chịu ảnh hưởng! Đành rằng không có «trường thơ Bùi Giáng» trong văn học, nhưng những câu anh viết trong bài Khề Khà Thu Sang cho thấy khá rõ sự cận kề tương đắc giữa hai phong cách đó:
“… Con chim tu hú bay sang
Rủ rê mây tím rộn ràng dâng mưa
Chim muông thảo mộc dạ thưa
Hươu nai khỉ vượn đong đưa tụ về
Thế là trên khắp sơn khê
Tháng mười hạ chết, khề khà thu sang.” (sđd, tr.72)
Lá đúng là đã gợi hứng rất nhiều cho nhà thơ sông Hàn của chúng ta, vốn yêu thiên nhiên chẳng kém chi người. Nếu không tượng trưng cho người tình, thì nó cũng được đóng vai chim xanh sứ giả hoặc kỷ vật làm tin, như anh mô tả trong bài Chuỗi Ngọc Xinh Xinh:
“…Thôi vậy nhé, em về bên sông nhỏ
Anh lên ngàn xây đắp bờ suối mơ
Nhớ em anh ký tên vào chiếc lá
Thả xuôi dòng con nước chở làm tin…” (sđd, tr.27)
Nhìn chung văn học nghệ thuật, hình ảnh chiếc lá đã từng được khắc họa trong khá nhiều tác phẩm. Nói thi ca thì không thể không nhắc đến Nguyễn Đình Toàn với câu thơ nổi tiếng đã được Vũ Thành An phổ nhạc:
“… Anh nói với người phu quét đường
Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em …” (Em Đến Thăm Anh Đêm 30) 19
Còn nói nhạc, thì lại càng khó quên hai bài hát xuất sắc trùng tên Chiếc Lá Cuối Cùng, một của Tuấn Khanh (Sài Gòn,1972, quá quen thuộc), một của Đoàn Chuẩn (Hà Nội, 1955, ít người biết vì chỉ được công bố vào năm… 1986). Bài sau – giàu nét lạ so với những sáng tác khác cũng từ tay người đã từng mang danh hiệu “nhạc sĩ của mùa thu” kiêm “công tử Bạc Liêu xứ Bắc”20 này – có tính chứng từ, chứa đựng nhiều kỷ niệm riêng tư 21và đặc biệt là lời nhắn nhủ dưới đây, gửi đến người yêu:
“…Chiếc lá cuối cùng là của em đó
Em hãy giữ gìn, trước lúc chia tay…”
Chưa hết. Trong bài «thất ngôn tứ tuyệt» phá thể Thu Ngự Lòng Tôi Lá Của Em, nhà thơ xứ Quảng có cố ý cho lập lại ba lần câu cuối của tiểu đoạn 2 – rất đẹp –, trước khi lấy nó làm tựa:
“… Hồn tôi ngọn sóng chờ trăng mọc
Thu ngự lòng tôi lá của em…” (HXMNB, tr.16)
Vẫn mãi … lá là lá. Nhưng bây giờ – phải chăng đấy là hệ quả của «lời kinh» ba lần được nhẩm lại giống như trong lễ … «cầu tiên»? –, bỗng dưng khuôn mặt Vũ Hoàng Chương chợt hiện ra, trên nền thi cảnh! Thật khó hiểu vì sao lại có sự kỳ ảo này, nếu không nêu giả thuyết rằng, trong bài Mười Hai Tháng Sáu 22, Vũ thi sĩ đã để vang vọng đến hậu thế một điệp khúc ma mị, mà ba từ chót có cùng âm với cụm từ “lá của em”, đó là:
“…Tố của Hoàng ơi! Tố của anh!…”
Cuôc thơ thẩn dạo chơi trong khu thượng uyển – mà Lê Miên Khương cố tình mời mọc để ngỏ – có thể sẽ còn hiến tiếp cho khách tao nhân thêm cơ hội gặp gỡ lạ lùng tương tự: cận kề mà huyễn hoặc, mơ hồ nhưng khá dai dẳng, vượt hết mọi suy luận trong không-thời gian hiện thực! Phải chăng là do hiệu ứng cộng hưởng, «đồng thanh đồng khí» đã nói trên? Hay là bởi «cảm ứng lương tử», như đã được vui bút «thậm xưng» tí đỉnh ở phần đầu bài viết này? Hoặc giả, nghĩ cho cùng, đó chỉ đơn thuần là kết quả của cú chạm lóe sáng khởi sinh, dẫn tới sự tan chảy hòa hợp giữa nhà thơ – trong giây phút xuất thần sáng tạo – với cộng đồng văn học có cùng nếp văn hóa anh mang?
Cũng có thể là do tổng hợp của hết thảy những nhân tố đó. Hay, nói theo Duyên Khởi luận Phật giáo, chẳng hề có cái tôi độc lập nào để mà phải mất sức lo tranh dành phân định: mọi sự đều chỉ là một công trình kết nối vĩ đại, vô cùng tự nhiên…
Một ví dụ cuối cùng sẽ cho thấy thêm về độ rộng của “thi phổ” liên quan – vẫn trong chiều hướng ấy –, vào thời điểm đặc biệt khi Lê Miên Khương cất tiếng:
“Ở đây nắng ít mưa nhiều
Khí trời lành lạnh chiều chiều mây giăng ” (HXMNB, tr.49)
Lập tức, ta thấy ẩn hiện xa xa, một Trịnh Cung đang ngâm bài Ở Đây Thôi Ở Đây Đành 23! Sự kết nối diệu kỳ không ngừng ở đó mà – trong bức tranh toàn cảnh – ta còn thấy có cả dáng dấp của Hữu Loan nữa, lững thững bước đến, nhằm lúc nhà thơ Đà Nẵng cùa chúng ta đang thẫn thờ hạ bút:
“… Hai quả tim quên đập cùng một nhịp
Nên mắt buồn loang tím cả chiều quê …” (sđd, tr.36)
Phải xác định ngay rằng toàn bộ các tác phẩm trích dẫn cho đến đây đều không có dính dáng gì với nhau, về mặt thi pháp cũng như xuất xứ: trừ trường hợp Bùi thi sĩ ra, các nhà thơ kia đối với Lê Miên Khương thì – theo chỗ mọi người được biết – chẳng hề có chút liên hệ vật lý hay văn chương nào. Dấu ngoặc về hiện tượng vừa nêu chỉ là để nhấn mạnh đến lực mở vô song của thi ca: một chút dao động “vi phân”(infinitésimal) cực nhỏ của âm-từ-vần-điệu ở đầu này có thể làm dậy sóng «cảm ứng», lôi xô ồ ạt không biết bao nhiêu là hình ảnh chất chồng trong trí tưởng, ở đầu kia!
X
X X
Cõi thơ cũng có nhiều cửa. Phía cửa buồn – chưa bao giờ khóa chặt –, những thao thức vẫn có thể còn cào cấu, rượt đuổi tác giả, mà chứng cớ là điệu «hai-ku» vần trắc này, nghe như kim chích vào da thịt:
“Nhớ em đi tìm được dăm bước
Đã thấy đường dài buồn trăm năm
Câu thơ chưa xong đòi chạy ngược…” (MTCA, tr.18)
Thậm chí, có khi «đuối lý cùng đường», Lê Miên Khương đã phải đi đến cực điểm là đổi vai, tự «cải trang» thành… giọng nữ, để nài nỉ thiết tha – với cả «ngực hoa ốc đảo» lẫn «bài thơ thấm máu» – đối tượng si mê của mình:
“…Em viết cho anh bài thơ màu đỏ
Vì đã thấm máu của em đâu đó
Có muối mặn vì ướt những giòng nước mắt
Em sẽ ngâm thơ lên để ru anh ngủ
Trên ngực hoa em ốc đảo bồng bềnh
Để làm ấm dịu một trái tim
Chai đá và lạnh lùng với em
Anh ơi
Em phải làm gì để mở được trái tim anh?” (sđd, tr.23)
Có lẽ trên cả ngàn câu thơ anh viết tổng cộng cho tới nay, những rung cảm, xót xa, ước mơ và mất mát, những trăn trở, dự phóng xa gần đó, đương nhiên hẳn đã có cơ ăn sâu,vặn xoáy, chụm thành mũi nhọn, như chùm tia sáng vật lý kia, chiếu hội tụ qua chiếc thấu kính (loupe) thời gian đời người – đủ cường độ để thiêu đốt ở chính ngay tiêu điểm nội tâm tác giả –, nếu không phải là đã bào mòn theo năm tháng từng nơ-ron hay tế bào tinh nhạy nào khác nơi cơ thể con người đa cảm ấy, trong quá trình thai nghén những dòng thơ.
Cho nên, người đọc không thể tránh tự hỏi vì sao nhà thơ – cũng như mọi tác giả văn học nói chung – lại chịu trả bằng giá của ngần ấy năng lượng và thử thách cam go như thế? Câu trả lời dường như đã được gói ghém – đơn sơ mà thấm thía – trong câu nói của Mai Ninh, nhà văn và cũng là bạn du học cùng lứa với nhà thơ, đã ra đi cách đây không lâu giữa xót xa thương tiếc của bao người:
"... Nếu phần lớn các hành động của con người đều do tình yêu dẫn dắt và chi phối, thì viết, với tôi cũng vì lẽ ấy."24
Vâng, chính tình yêu đã dẫn dắt nhà thơ vượt thoát, xuyên qua cánh đồng hiện hữu, đi tìm tự do bằng chính «mồ hôi nước mắt» những câu cú vần điệu. Thắng hết mọi sự bằng cái giá của những cô đơn, hoài nghi, tuyệt vọng. Chối từ ân huệ của sự liền lặng bằng phẳng để vật lôn với chính mình, để bóc vỏ hạt nhân sinh, làm lọt rớt ra cho được cái “tim sen” ngậm chứa nguồn sáng tạo những thực thể mới: dấu tích vết thiên di của hữu thể trên bầu trời khả tri lồng lộng…
THAY LỜI KẾT
Khời thủy là lời. Và lời đã hóa thành Thơ, ngay từ mờ sớm buổi bình minh văn học loài người.25
Thơ vốn đồng nghĩa với cái Đẹp. Cho nên Yên Thao mới viết câu nổi tiếng này:
“…Tôi có người vợ trẻ, đẹp như thơ
Tuổi chớm đôi mươì, cưới buổi dâng cờ”. 26
Nhưng cái Đẹp là đối tượng không phải của hưởng thụ mà của cái duyên gặp gỡ, là phần thưởng dành cho sự tạo tác thành tựu. Chính yếu tính của thơ, nói như Paul Valéry, cũng là sự đi kiếm tìm chính nó27, bởi vì giá trị đích thực thì luôn đi đôi với nỗ lực phát hiện và khai phá.
Lê Miên Khương đã phát hiện báu vật từ tro mầu kỷ niệm đời mình. Nàng Thơ đã giúp anh vượt cảm xúc để tìm ra ngôn ngữ. Mà ngôn ngữ chính là chìa khóa của hiện hữu, suy tư và giá trị. Những gì Orwell tố cáo qua tác phẩm 1984 28 đã được rành rành kiểm chứng qua những hành vi thâm hiểm của Trump và đồng bọn (cùng những “trùm” quốc tế đồng đẳng) hiện nay: tổ chức đi tới sự thủ tiêu ngôn ngữ, để dễ bề sai khiến, thống trị29, thông qua cái Novlangue phiên bản câp nhật 2025 của họ.
Trong tình thế đó, về phần mình, Thơ tự nó hiển nhiên trở nên cao quý hơn bao giờ hết: chẳng những có khả năng giải độc chỉ bằng sự hiện diện, nó còn mang chiều kích của sự phản kháng – đề kháng, nếu cần –, vì sự tồn vong của một xã hội nhân bản.
Octavio Paz, Giải Nobel Văn học năm 1990, có nói: “Mọi thi sĩ trong những khoảnh khắc thơ, dù dài dù ngắn, nếu thực là thi sĩ, đều nghe tiếng nói khác. Nó là tiếng của chính họ, của một người nào khác, của chẳng ai khác, chẳng của ai cả, và của tất cả mọi người… Chừng nào còn con người, chừng đó còn thi ca (…) Sinh ra bằng trí tưởng tượng của con người, thơ có thể chết nếu trí tưởng tượng chết hoặc đồi truỵ. Nếu con người quên thơ, họ sẽ quên chính mình.” 30
Lê Miên Khương giúp ta không quên ta, bất luận ở tuổi nào.
Bởi chính anh cho thấy đã giữ vững một lòng son sắt với những gì phổ quát, tự nhiên, hằng cửu: rung động đến tận cùng của trái tim, miệt mài sáng tạo, đáp trả đích đáng mọi quả bóng nhân sinh bay tới trong màn giao hữu thường trực với cuộc đời.
Bằng một tâm hồn xanh biếc…
Paris, cuối mùa thu Ất Tỵ (2025)
Chú thích
18 Xuân Diệu, Cảm Xúc, trong tập Thơ Thơ (1938),
https://www.thivien.net/Xu%C3%A2n-Di%E1%BB%87u/C%E1%BA%A3m-x%C3%BAc/poem-WKWvktcZ_7p_e0hYhUcLuA
19 Nguyễn Đình Toàn, Em Đến Thăm Anh Đêm 30, hát bởi Khánh Ly :
https://www.youtube.com/watch?v=p0F3d_e49V4
20 Đoàn Chuẩn, https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90o%C3%A0n_Chu%E1%BA%A9n
21 Đoàn Chuẩn, Chiếc Lá Cuối Cùng (mời nghe hát bởi Lê Dung :
https://www.youtube.com/watch?v=tDRDbmtSY9c [xin lưu ý lời nhạc ghi sai trong vidéo vì phải là « Em thời
xa » chứ không phải « thời gian »!] và Quỳnh
Lan :https://www.bing.com/videos/riverview/relatedvideo?q=qu%e1%bb%b3n+Lan+chi%e1%ba%bfc+l%c3%a1+cu%e1%bb%91i+c%c3%b9ng
+%c4%91o%c3%a0n+chu%e1%ba%a9n+youtube&&mid=898DEAB4C9E869A25C28898DEAB4C9E869A25C28&FORM=VAMGZC )
22 Vũ Hoàng Chương, trong thi tập Mây (1943) : https://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-
cuu/say_cung_vu_hoang_chuong-4.html
23 Trịnh Cung, Ở Đây Thôi Ở Đây Đành:https://www.dutule.com/a9593/trinh-cung-o-day-thoi-o-day-danh
24 Mai Ninh trả lời phỏng vấn: http://www.vietbang.com/index.php?c=article&p=2283
25 Theo Wikipedia: https://fr.wikipedia.org/wiki/Enheduana
26 Bích Huyền: Nói Chuyện với Yên Thao, Tác Giả Bài Thơ "Nhà Tôi", https://t-van.net/bch-
huy%E1%BB%81n-ni-chuy%E1%BB%87n-v%E1%BB%9Bi-yn-thao-tc-gi%E1%BA%A3-bi-th%C6%A1-nh-ti/
27 Nguyên văn câu của Paul Valéry:«L’essence de la poésie est la recherche de la poésie même» trích
dẫn bởi Frédéric LEEEVRE, Entretiens avec Paul Valéry, Paris, Le Livre, 1926, tr. 67-68.
28 https://fr.wikipedia.org/wiki/1984_(roman);
29 Về nguy cơ hệ thống đến từ Trump và phe nhóm, đặc biệt những kẻ đứng đầu các công
nghệ mới, mời xem những phân tích của Asma Mhalla được giới thiệu qua
https://fr.wikipedia.org/wiki/Asma_Mhalla
30 Octavio Paz, Thơ văn và tiểu luận (Nguyễn Trung Đức chọn dịch, Nxb Đà Nẵng, 1977, tr. 266/274)