Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
30.459 tác phẩm
2.720 tác giả
1.701
141.618.435
 
Lê Miên Khương, thơ như chung thủy một Hồn Xanh với Mùa Thu muôn thuở (phần 1)
Bùi Đức Hào

 

  « Les limites de mon langage signifient les limites de mon monde »

(Những giới hạn ngôn ngữ nơi mình đều có nghĩa là những giới hạn chính cái thế giới của ta)

             Ludwig Wittgenstein

           (Tractatus logico-philosophicus, 1921)

 

Có thể bạn không thích thơ, nhất là thơ tình. Vì thấy nó viễn vông, thậm chí phù phiếm lạc điệu quá chăng, giữa thời buổi giá trị hoàn toàn đảo lộn: thế giới gãy vỡ, máu lửa chiến tranh, thiên tai địch họa lan tràn mà con người thì lắm kẻ còn đi tôn bọn thô bỉ lên ngồi đầu thiên hạ, xưng hùng xưng bá trên sự giả trá cuồng bạo, chà đạp nhân phẩm, tiêu diệt đồng loại, phá hủy thiên nhiên cùng cả bao thành quả văn minh nhân loại?

 

Hoàn toàn thông cảm với bạn.

 

Thế nhưng, nếu thử một cách “nhìn ngược” bức tranh vân cẩu hoen ố này đi, biết đâu ta lại chẳng khám phá ra nhiều điều mới lạ, góp phần thanh lọc tâm trí, triệt tiêu những độc tố lây truyền trong cuộc sống hôm nay? Hãy để Lê Miên Khương vén mở cùng ta những khung trời khác ấy, trong số những trải nghiệm nhân sinh phong phú, đáng được chia sẻ – và có lẽ cũng thuộc vào hàng những mỹ cảm thanh tao, sâu lắng nhất – của anh!

 

Cách đây đúng một con giáp, đầu năm Quý Tỵ, Lê Miên Khương đã ra mắt giới yêu thơ với Thi tập đầu tay, Đóa Tinh Tuyền Dâng Mẹ 1. Rồi tiếp theo là Thi tập 2, Em Thánh Thiện Dạy Tôi Đôi Điều2.

 

 

         Lần này, anh đĩnh đạc trình làng cùng lúc hai ấn phẩm Mùa Thu Của Anh [MTCA] và Hồn Xanh Màu Nước Biển [HXMNB]: một thành tích đáng nể, đặc biệt với sự đều tay, hiệu quả (như chính cái sinh hoạt bóng bàn gạo cội hàng tuần – bao gồm cả tham gia thi đấu liên vùng xứ Pháp – của một Bùi Chưởng phong độ, thong dong vượt ngưỡng “cổ lai hi” đã từ nhiều năm nay rồi này).

 

           

LỐI VÀO

  Thơ như biểu hiện của tự do và hành trình mỹ học 

Hồn Xanh ư, bạn hỏi? Vâng, cái màu ấm áp, mặn mà, của một biển Thanh Bình Đà Nẵng đã “nhập tâm” nhà thơ từ thuở nhỏ.

 

 

Thế còn Mùa Thu? Đó là mùa của những xao xuyến, vấn vương, ngân lên theo từng sợi nắng tơ vàng lửng lơ trong khu vườn ký ức…

 

Bất luận nhằm lúc anh đang đứng trên xứ này hay miền nọ, cái-trong-tôi hòa nhập với không gian trước mặt trong mỗi thời khắc, làm thành một cõi riêng huyền diệu: vừa đậm đà chất Quảng quê hương, vừa giông giống một cái gì khác khó phân định – bởi cõi ấy hãy còn liên tục chuyển hóa, với bao thành tố sung mãn dồn lại, đâm hoa kết trái, chối từ mọi sắp xếp cắt chia hay định hình giới tuyến –; tất cả cứ thư thái lướt đi, lãng đãng như hồn thơ, trong một chuyển động rộng mở, sẵn sàng giao thoa, bắt nhịp “tương cầu” với tri âm bốn biển.

 

Vậy là đủ. Màn đã mở ra trên sân khấu thơ dựng sẵn, chan hòa dưới ánh sáng mùa trăng năm cũ. Cảnh trí, kịch bản đều hoàn chỉnh, gói ghém nuối tiếc lẫn đam mê nhưng vẫn giữ trong chừng mực, như lời thổ lộ thốt lên từ trái tim chân thật này:

 

“Viết gởi em một bài thơ xứ Quảng

Có sông Hàn lững thững chở phù sa

Và trong tôi vẫn ôm bóng Sơn Trà

Qua năm tháng hồn xanh màu nước biển…” (HXMNB, tr. 34)

 

Tiếp cận với thơ Lê Miên Khương, trước tiên, là đi vào thế giới những rung động tình cảm cố điển, thuần túy đó. Là bắt gặp tiếng thì thầm của tình yêu trên những cung bậc thanh trinh, phi nhục cảm3. Bức tranh nghệ thuât của anh, vì vậy, sẽ chỉ trình hiện rõ nét khi nào tâm hồn kẻ thưởng ngoạn đã được dọn mình để đạt tới mức thật sự yên lắng.

 

Ta vừa nói tới “tri âm bốn biển”, nhưng nào chỉ có thế: bằng cú gõ thi thoại thần chú, nhà thơ đã mở được cánh cửa chắn ngang mọi vũ trụ, kể cả vùng không gian tít tắp những thiên hà huyền diệu, nơi bay bổng tinh anh những con người vĩ đại chàng hằng ngưỡng mộ. Từ đó, dễ hiểu vì sao Lê Miên Khương đặt tên Thi tập 3 bằng ngay chính cái tựa bài thơ văn xuôi – trong số những sáng tác hẳn là đắc ý nhất (lại thêm được chuyển sang Pháp ngữ bởi một Marina Prévot4 tài hoa) –, mà tác giả đã đặc biệt dành để đề tặng thi hào Rabindranath TAGORE, bài đáng đọc một mạch từ đầu đến cuối ngay đây, cho khỏi mất đi bất cứ chút hương vị nào:

 

 “Một sáng mùa thu, đứng bên hàng dậu trà nhà em, anh thấp thoáng nhìn em không dám gọi. Chỉ thấy em đi qua đi lại nhẹ nhàng dưới giàn hoa thiên lý. Mùi hoa tinh khiết dịu dàng tỏa thơm cả một vùng trời, gọi bướm ong về hút nhụy, đem hương dâng cho đời tươi đẹp.

 

Nhà em ở cạnh con sông, có dậu trà xanh để anh đứng đó gieo lòng theo gió cuộn. Làm sao em biết được tiếng gọi của tim anh ?

 

 Một chiều mùa thu, đứng dưới bóng hàng cau, anh thấy em soi gương chải tóc. Tóc em mượt mà, bồng bềnh như mây đang trôi trên bầu trời. Anh muốn cài lên tóc em một nài hoa hướng dương, như để níu kéo mặt trời không cho lặn xuống cuối chân trời bên kia triền núi.

 

 Nhà em ở cạnh con sông, có hàng cau cao vút để anh đứng đó dâng hồn theo mây trôi. Làm sao em hiểu được tiếng thổn thức của lòng anh?

 

 Một tối mùa thu, đứng bên hàng hoa râm bụt, anh thấy em thong gót trên bờ sông quê mình. Ánh trăng rằm soi từng bước em đi. Giọng em hát lên, như nói chuyện với các vì tinh tú trên cao xa đang chiêm ngưỡng em. Những con đom đóm như bị em thu hút, bay vờn quanh chân em, soi đường cho em đi vì chúng sợ ánh trăng cô liêu không đủ sáng.

 

 Nhà em ở cạnh con sông, có hàng râm bụt đỏ để anh đứng đó dâng lời ước nguyện cho trăng sao. Làm sao em biết được có một người đang khóc dưới bóng trăng ?”         (MTCA, tr.5-6)

 

Thơ ở đây chạm cả tới trăng sao. Và cuốn trọn hồn người.

 

Tự bản chất, thi ca vốn thuộc một bình diện cao vời, nên mỗi khi phải ngụp lặn với đời, nó luôn luôn đi ngược con sóng bản năng. Nó chắt lọc tối đa cái khả sắc (le sensible) hiện tượng, để chỉ giữ lại phần cốt lõi được xem như vĩnh viễn tồn tại, tích lũy mọi sự đồng quy trên một “nẻo về của Ý” là nơi – nói cho cùng – tiếp giáp thâm sâu với bầu trời triết luận Platon truyền thống: chưa bao giờ tình yêu lại sát gần với cái khả tri (l’intelligible) đến như thế!

 

Nơi nhà thơ, động tác đi tìm cái nhân khởi phát rung động này bắt nguồn từ chỗ biết suy tưởng – mà chỉ con người mới có được – nhờ vào một phẩm tính nhân văn cao quý, thường được tin là do tạo hóa ban cho (hoặc được nêu ra như một định đề 5): sự tự do. Tự do, trong ý nghĩa triết học ở đây, là đối cực với tất định (déterminisme) – tức cái lẽ vô hình chi phối, điều khiển mọi sinh vật trừ con người – nhưng không đối nghịch với tất yếu (nécessité) 6: khác với thú, người biết tự-bứt-mình (s’arracher) ra khỏi những điều kiện nguyên sơ dính chặt với muôn loài nói chung, bằng cách cưỡng lại mệnh lệnh tự nhiên của «xung lực sinh học» trỗi lên trong cơ thể, biết lấy khoảng cách với chính mình, với thực tại, để chẳng những nắm bắt cái hiện hữu mà còn làm cho nó khởi sắc, giàu thêm lên, thoát ra ngoài quỹ đạo của sự vật tầm thường, nhờ một khả năng kỳ diệu mang tên sáng tạo.

 

Khái niệm tự do hiểu như đặc trưng nhân tính nền tảng này, nhân loại hằng cảm nhận từ lâu nhưng đã phài chờ đến sự xuất hiện của một Jean-Jacques Rousseau7– rồi Immanuel Kant5 – để được lập thuyết hoàn chỉnh, tức cũng ngót ba thế kỷ sau những nhận định khai sáng chủ nghĩa nhân bản của Pic de la Mirandole 8, mà nội dung là sự tích hợp và triển khai các tiền đề do Protagoras 9 khởi lập từ thời cổ đại…

 

Như vậy, một đằng, tự do thực chứng chất người và, đằng khác, Nàng Thơ chỉ xuất hiện khi nào có mặt tự do. Sáng tác của Lê Miên Khương, vì thế, không thể là trường hợp ngoại lệ. Chỉ cần đọc hết thơ anh, không bỏ sót bài nào, ta sẽ nghiệm ra cái may mắn vô bờ của anh, cũng như của những nhà thơ nói chung: mỗi câu chữ chắp cánh cho ý tưởng – và qua đó là trọn vẹn cả tâm hồn – vượt thoát được cái-thường-nhật xung đột, chật hẹp, mâu thuẫn, cái-chung-quanh ô uế, bạo liệt, suy đồi.

 

Nhưng vượt thoát không có nghĩa là chạy trốn hay bịt mắt, quay lưng – cho dù thực giới (le réel) có gớm ghiếc, bất kham, đến mấy –, mà là dám ôm choàng, sờ chạm, mổ xẻ, soi rọi nó. Là giải được bài toán hiện sinh. Là khai lối cho dưỡng khí siêu nghiệm (transcendance)10 xuyên sâu vào từng mao quản li ti đến nuôi các tế bào sự-thể-cuôc-đời. Biến chúng thành một thứ hạt báu “lượng tử” tương đương nào đó mà ta cứ thử hình dung là đang trong trạng thái sẵn sàng “thiên biến vạn hóa”, kể cả qua cái cơ chế tạm gọi là “cảm ứng” lượng tử (intrication quantique) 11 đi chẳng hạn, như vật lý ngày nay hay nói tới – biết đâu chừng cũng là rất khả thi trong trường hợp này? –, cho phép chúng hợp với đám “hạt đối tác” ở mọi góc bể chân trời để nhất cử nhất động“đồng thanh tương ứng”, đến tận cùng thỏa chí hả hê!

 

Để tiếp tục một “nghiệp” mới. Tức cái hành trình máu thịt, căng tròn sinh lực bản ngã, diễn ra – nếu không ở chính thực giới thì cũng đâu đó, trong một thế giới khả thể song song đầy ma lực –, với những sắc màu, hương vị sực nức mới toanh, điểm tô “tới bến”, cho ngay cả những sự kiện khiêm nhường nhất mà chủ thể có lần sống qua.

 

Chính xác đó là điểm hẹn. Là lằn mức đến, chỗ tai nghe tiếng thở phào nhẹ nhõm sau quá trình thai nghén cam go: nơi rộ nở tác phẩm chào đời.

  DÒNG TỰ SỰ

  Thơ như mặc khải tình yêu và chiều sâu cuộc sống

 

Tác phẩm Lê Miên Khương đã rộ nở như thế, trên kỷ niệm học trò cùng những mối duyên tao ngộ – bất luận là câm nín hay bộc trực – giữa dòng đời. Khi thì theo bước hành hương trên các nẻo đường đất nước, khi thì trực chỉ đến từ những trải nghiệm thường nhật.

 

Chất lãng mạn không chối cãi trong mỗi câu anh viết là nhân tố thăng hoa, cho dù có thể không nhất thiết được độc giả chia sẻ hết: tán thưởng hay không là tùy tạng người, song cái chân chất trong thơ anh vẫn là hằng số. Không câu nệ hình thức, có khi bất chấp niêm luật hoặc thậm chí ngay cả vần điệu: cái chính là mạch thơ, là tâm tình thôi thúc. Vì vậy, thơ anh thường lóe lên hiệu ứng vừa như gương soi cho chính bản thân, vừa là hoa đóa tặng đời.

 

Trước cảnh trời thu xa vắng, Lê Miên Khương tư lự, trầm ngâm, chạnh lòng nhắn hỏi :

 

“…Mùa thu về em có xốn xang

Chim non rời tổ bỏ thiên đàng

Không gian vàng chứa màu thương nhớ

Tiếc chuyện chúng mình nay dở dang…”           (sđd, tr.13)

 

Ngay khi ấy, mồn một hiện về là chuỗi dài những hình ảnh, rất đích thực và riêng tư của tác giả đã đành, nhưng đồng thời cũng lại dễ trùng hợp với chứng tích trên trang đời của bao kẻ khác, nên ta chừng như đứng trước một chùm những sự kiện phổ biến, gắn liền với bất cứ mái trường xưa nào, ở vào cái giai đoạn mà có người đã không ngần ngại chỉ định bằng ngoa ngữ “thời học sinh thần thánh”:

 

“…Kỷ niệm xưa lung linh màu thổ cẩm

Mảnh voan quàng trên mái tóc thơm hương

Cánh bướm vàng ngẩn ngơ tìm hoa nở

Tuổi học trò xanh mộng ấp mùa thương…”     (HXMNB, tr.37)

 

Tình yêu ở tuổi đó, dù vu vơ nhẹ hẩng đến mấy, vẫn không dễ phai nhạt như người ta tưởng. Huống hồ chi trường hợp của anh! Cho nên, hãy ghi lấy ngay đây lời khẳng định của nhà thơ, trước khi theo tiếp câu chuyện kể, để thấu rõ ngọn ngành:

 

“…Nếu ai hỏi màu phượng xưa còn đỏ

Mái tóc xanh nay lấm tấm bạc vàng

Màu nhung nhớ triền miên tình thứ nhất

Cất giữ hoài chống chọi với thời gian!”          (như trên)

 

Lê Miên Khương không dấu diếm. Anh trân trọng lật từng trang“ tình sử ” thanh xuân trong tư thế chiêm nghiệm, nghĩa là chủ ý chạm tới cho được cái nguồn nghệ cảm ẩn sau mỗi sự việc giờ đây đã hết còn là thầm kín riêng tư giữa hai người, mà nghiễm nhiện đạt tới cái quy chế khách quan phổ quát của một đối tượng văn học hay mỹ học, nằm ở một khoảng cách nhất định tách ra ngoài chủ thể: mỗi trang ấy đã hóa thân thành tác phẩm. Mô thức này tương ứng với một quy trình làm tái hiện, dưới một ánh sáng mới, bất cứ thực thể vốn sống nào của người cầm bút hay làm nghệ thuật nói chung.

 

Trong trường hợp cụ thể ở đây, nó dẫn tới ít nhất ba hệ quả tích cực: một là tạo sự tương thông12 nơi độc giả; hai là hóa giải mầm ghen tuông tình cảm (khả dĩ có thể nảy sinh – dù bé nhỏ tới đâu – nơi người bạn đời tác giả chẳng hạn trước “mẫu chuyện” này hay “giai thoại” kia), và ba là giải phóng tâm tư làm nhẹ gánh cho người trong cuộc chủ yếu là tác giả, một khi đã hoàn thành cuộc «lột xác phân thân», đã nghiễm nhiên gửi gắm xong xuôi, bàn giao hết thảy cho… những nhân vật trong tác phẩm. Một thứ catharsis13, trong chừng mực nào đó, nếu phải mượn thuật ngữ của Aristote chỉ một khái niệm đặc thù đã tồn tại lâu đời trong kịch nghệ cổ điển Hy Lạp…Riêng hệ quả thứ ba này, tự nó, lại sẽ dẫn thêm tới những nguồn cảm hứng mới cho nhà thơ, mà ta sẽ bàn đến sau.

 

Trở lại với mối tình thơ ngây mà tác giả hằng ấp ủ, hãy biết rằng nó được đánh dấu bằng một tin vui khi chàng tuổi trẻ nhận được học bổng du học (một ngày cuối thu 1968), đến giã biệt người yêu với tất cả tin tưởng ở ngày mai tươi sáng:

 

“Xin chào nhé người em xinh mười tám

Tôi lên đường xin tạm biệt quê hương

Em ở lại có vầng trăng sáng rỡ

Và sao trời như ánh mắt tôi thương…”         (sđd, tr. 39)

 

Dĩ nhiên, như trong bất cứ cuộc chia ly nào ở lứa tuổi đời còn xanh mướt – dẫu có nghĩ là chỉ tạm thời ngắn hạn –, những hạt lệ trong ngần từ người con gái khi ấy đã tuôn rơi. Dường như để lại nơi trí tưởng chàng trai hình tượng dấu vết một mối tình ghi bên giếng ngọc, đẹp như đến từ câu chuyện cũng lắm «khúc tơ vương» của một Mỵ nương huyền thoại:

 

“…Trong niềm vui đã âm thầm tiếng khóc

Một đời người được mấy khúc tơ vương…”            (nt)

 

Năm tháng trôi qua. Chàng vận dụng trí nhớ để thêm hơi tiếp sức nuôi dưỡng niềm tin và có lẽ cũng để nhắc ngay cho cả chính mình:

 

“…Tôi bên đây vẫn mơ về bên ấy

Dưới vòm trời chung một ánh sao băng…”           (nt)

 

Thế rồi, trong một chuyến về thăm quê hương sau bao nao nức đợi chờ, khi người con trai dừng chân ghé lại thì, như một cơn gió phũ phàng quất mạnh – và chủ thể, dẫu bất ngờ trái ý, vẫn bản lĩnh đối đầu nghịch cảnh, đặc biệt qua cách lấy độ lùi và diễn tả bằng thì quá khứ –, việc gì đến đã đến:

 

“Ðường xưa lối cũ trở về

Ðâu còn bóng dáng tóc thề ngang vai

(…)

Dẫu mình không được tri âm

Không duyên nợ cứ âm thầm chia xa…”       (MTCA, tr. 75)  

 

Rồi tiếp theo, dĩ nhiên, là nỗi dày vò, tiếc nuối, pha lẫn với đôi chút ngẫm ngợi:

 

“Ðường trăm ngả lắm phôi pha  

Chiều nay bỗng nhớ người ta rất nhiều!

Người ấy nhớ ta bao nhiêu?  

Gia thất an phận, bao điều lo toan!... ”              (nt)

 

Hai tiếng “người ta” mang nồng độ đắng cay, chua chát – ngầm chứa cả đôi chút mâu thuẫn nữa –, ngược hẳn với từ ngữ thường gặp của Lê Miên Khương: hình như trong toàn bộ các tác phẩm, nhà thơ chỉ duy nhất dùng có một lần ở đây. Rồi anh vội vã tuyên bố ngay lời chấm dứt:

 

“Tại vì duyên nợ dở dang  

Tôi xin thắp một nén nhang cho tình.”                (nt)

 

Nhưng làm gì dễ được như thế! Mà, đúng ra, anh cũng không phải là ca riêng lẻ: thời của anh, những năm thập kỷ 1960, thường vang dội trong tâm tư người trẻ nhiều cuộc tình dang dở đã trở thành bất tử qua nghệ thuật. Ta có thể kể đến những giai điệu rất được ưa chuộng của một Từ Công Phụng xuất hiện trên sân khấu văn nghệ miền Nam khi ấy như ngôi sao sáng rỡ:

 

“…Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?

Anh đi tìm màu hoa em cài…” (Bây Giờ Tháng Mấy)14

 

Hoặc, trước đó hơn một chút, là câu chuyện tình học trò của nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà – với câu xưng tụng nổi tiếng "Lạy Chúa! con là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên trời” –, cũng đã được phổ nhạc bởi nhạc sĩ Anh Bằng:  

 

        “…Sau mười năm lẻ, anh thôi học                                                                                                            

             Nức nở chuông trường, buổi biệt ly…”

             (…)                                                                                                                                                                                                                                                                                           

     

 “…Vẫn nhớ bóng vang thời áo tím

 Nên tình thơ ủ kín trong lòng…”(Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím)15

 

 Tranh Đinh Cường (sưu tầm trên mạng)     

                                                                          

 

Lê Miên Khương cũng “tình thơ ủ kín” như vậy, theo cách của riêng anh.

 

Đầu tiên, đó là những hoài niệm, lung linh theo thứ ánh sáng kỳ diệu đến từ sự thủy chung với mộng mơ tuổi trẻ, với cái Đẹp muôn đời:

 

“Nhớ ngày bướm đậu trên tay

Trong em hoa nở và mây bay về

Phủ trên vai nhỏ tóc thề

Ngõ hoa che lối, đường về quên tên!”         (MTCA, tr.54)

 

Người đọc khó tính có thể cho là quá theo ”hình mẫu”. Nhưng nếu nó là thật, thì sao?

 

Không thật với mình, với kỷ niệm xưa giàu chất khơi gợi, thì tác giả khó lòng viết được những câu đầy ám ảnh như:

 

“…Bao năm cách trở vườn tao ngộ

Còn dấu chân người trên sỏi thưa?”          (MTCA, tr. 73)  

 

Sỏi đá cũng trở nên có linh hồn: vừa làm chứng, vừa ngóng theo, truyền đi cái thông điệp đợi chờ.

 

Về nghĩa, tại sao sỏi chẳng lan tràn khắp lối mà lại phải “thưa”, nếu không là để đồng dạng với một ngoại cảnh rã rời, lãng quên, hoang phế?

 

Về âm, từ “thưa” – vần bằng, không dấu (phù bình thanh) –, nếu đem so với một từ khác tương đương nhưng mang dấu huyền (trầm bình thanh) chẳng hạn, thì sẽ càng làm nổi bật sự chọn lựa khéo léo của nhà thơ, bởi nó có độ ngân xa hơn hẳn. Như âm hưởng nỗi nhung nhớ của người trong cuộc…

 

 

Trong một bài khác, anh đã thể hiện tâm trạng mình, qua những hình ảnh rất ư cố điển mà vẫn cứ hay:

 

“Chiêm bao em có gọi tôi?

Mà sao choàng giấc tim côi nhói buồn

Ra vườn thấy một sao buông

Tưởng hồn rơi rụng giữa muôn trùng sầu.”      (sđd, tr.44)  

 

Nói thật, thơ thì nhiều người xuất bản lắm đấy, nhưng hình như ít ai có được cái tứ và từ giống Lê Miên Khương, như ta sẽ hoan hỉ nhận anh trao qua nhan nhản những ví dụ này:

 

“…Vườn quỳnh đêm thơm như cổ tích…”      (sđd, tr. 13)

                    (…)

 “Trong tôi cũng thấy bồn chồn

Cho tôi mượn nụ hôn đầu của em!?”            (HXMNB, tr.33)               

                   (…)

“Ai đo hạnh phúc bằng năm tháng

Hạnh phúc tôi đo bằng phút giây

Cái nhìn người tặng tôi hôm đó

Là một trời thơ lúng liếng đầy…”                (sđd, tr. 85)

                     (…)

“Khoảnh khắc vàng rơi nghe rất êm

Lá rơi lặng lẽ dọc bên thềm

Anh xa đâu biết màu thương nhớ

Hoa của lòng em nở giữa đêm…”               (sđd, tr. 45)

 

Cũng thế, người đọc cảm thấy cứ như bị bần thần, tái tê, trước những khổ thơ đứt ruột, bay xa rồi lại dội về, quyện khắp không gian, dù giữa núi cao trời rộng hay chỉ khung lại nơi vườn xưa xóm cũ:

 

“…Góp lửa hong tình cho ấm thêm

Vì mùa đông tới sẽ không em

Mây buồn trên núi không thèm khóc

Tôi mất em rồi đời trống không!”                (sđd, tr.68)

                       (…)

“…Vẫn biết mình cần có nhau

Mà sao mỗi ngả thầm đau mỗi người !”     (sđd, tr.32)

                  (…)

“…Luống cà đã tím ở vườn sau

 Thương lũ gà con liếp chiếp kêu

 Nhớ nhung có phải như tầm gởi

Trên da thịt buồn, cộng hưởng đau?”         (sđd, tr.61)

 

Nói không ngoa, vẫn cái đặc điểm tứ và từ vừa đề cập bây giờ cứ tiếp tục… “tái bản”: chẳng đúng đó sao – cái đập vào mắt ở đây chính là một điều rất tự nhiên –, hễ cho tầm gởi đứng bên cộng hưởng, thì hiển nhiên chúng sẽ ghép thành… cộng sinh (symbiose)?

 

Sự tinh tế trong nghệ thuật ”nhả chữ” của nhà thơ còn dễ nhận ra vào những lúc anh ngân nga “tức cảnh sinh tình”, cho ta cái cảm giác như anh nhìn xuyên thấu được tới bản thể:

 

“…Tôi đi tìm lại dòng sông

Đò ngang bến đợi ngóng trông ai về

Giọt thương giọt nhớ mẫn mê

Mộng du tôi vẫn ngô nghê suốt đời…”           (sđd, tr.19)

 

Và “cảnh” trước mắt ở đây thì được chàng dựng lại tuyệt đẹp bằng một kiến tạo tinh vi – có viễn có cận –, đặc biệt với hai nhân tố hình ảnh (“lá sủi tăm”) và âm thanh (“chuông luân hồi”) vượt trội, như hai cột trụ mỹ từ pháp nâng cao ý tưởng:

 

“…Người ơi nơi chốn xa xăm

Có nghe lá đổ sủi tăm giọt buồn

Hạnh ngân vàng trải đồi truông

Vượn nai còn nhớ tiếng chuông luân hồi?”        (nt)

 

Ngần ấy duyên nợ dan díu với quá khứ như vậy, mà rồi cuối cùng anh vẫn rời được cái “nghiệp” cũ đó. Và thành tích giữ vẹn “tình thơ” của thi sĩ, trên thực tế, cũng có nghĩa là sự giải phóng con tim về chân trời những gặp gỡ mới với những rung động vẫn hồn nhiên tươi tắn như thuở ban đầu!

 

Có lúc “sự kiện” chợt đến, tức thì và ngay tại chỗ – chiếm lĩnh khoảng thinh không trước mặt –, rúc rích ra tiếng, dạt dào thành hương:

 

“…Em cười với ai, hoa muốn ghen

Má lúm đồng tiền, răng khểnh thương

Ngàn sao anh đổi hai ánh mắt

Và dòng suối tóc bồ kết hương.”                   (MTCA, tr.25)

 

Nhưng trong đại thể, nó trầm lắng hơn thế – đôi lúc lại xuất hiện dưới dạng những câu nghi vấn –, vì có lẽ bị tác giả ghìm giữ, từ sau cuộc tình bất thành ta đã biết trên:

 

“…Em, tôi chung một con đường

Mà sao cuối nẻo mù sương vẫn còn

(…)

Tháng Mười se sẽ ngón sua

Hương luồn vào sợi tóc xua lá vàng

Hồn tôi gieo hạt đất hoang

Bao giờ gặt hái mùa màng vườn em?...”     (HXMNB, tr.33)

 

Lời lẽ đã bớt tính khẳng định, nhưng bức tranh chương mới thì vẫn còn cố định trong những môtíp quen thuộc của chàng:

 

“…Cúc hoa trải thảm dịu êm

Mời em nâng bước, bên thềm tôi mong

Trời xanh xanh mắt em trong

Lòng tôi lay lúng chênh chông lụa vàng

Tà ơi gió mãi đi hoang

Chiều thu nắng rụng lang thang cuối trời…” (sđd, tr.35)

 

Nhìn kỹ, có lẽ chỉ là do tâm tính thận trọng và phong cách “hiền nhân” của tác giả đó thôi. Chứ cái khác – và mới hẳn – bây giờ là việc nhiều đối tượng cùng tình huống bất ngờ, lạ lẫm, cứ ùa tới. Như chuyến ngao du cụ thể “được mùa” qua vùng cao nguyên này, là một:

 

“Lần đầu tôi đến Ban Mê

Đường đi đất đỏ cà phê xanh rừng

Từ đâu tiếng nhạc tưng bừng

Chập chờn bướm nhỏ vui mừng chào tôi

Hỡi cô sơn nữ đỏ môi

Đường xa bao dặm núi đồi Buôn Đôn?

(…)

Rượu cần ấm, quán nướng nem

Một ngày: lạnh, ấm. Êm đềm Ban Mê

Thật không: đi dễ khó về?

Từ cô tiếng hát đê mê trong lòng.”                 (MTCA, tr.43)

 

Ở đây, nhờ ngôn ngữ và nhịp điệu, thơ đã hóa nhạc. Nhạc ư? Thật đúng lúc, để bước sang cuộc “tương phùng” giữa chốn phồn hoa đô hội, nơi cô “ca sĩ đường phố” Thanh Hiền16 tình cờ đã lọt cặp mắt xanh thi sĩ:

 

“À ơi em ngủ cho ngoan

Anh dâng là lụa trải choàng thân em

Một vì sao lạc rời đêm

Hóa thân thành bướm đậu vào tóc em

Em xinh hương tỏa bên thềm

Anh ngây ngất mộng trong đêm tương phùng

Rồi đây trong cõi mông lung

Có đôi chim nhạn nghìn trùng xa bay

(…)

Tôi đi đôi bàn tay suông

Nụ hoa chờ nở trên vuông đất gầy

Người về còn giữ thơ ngây

Ðể mộng đẹp vẫn bủa vây tôi hoài!”             (HXMNB, tr.110-111)

 

Bốn câu cuối chân thành, gương mẫu, đáp đúng mọi chờ đợi. Thơ trẻ hóa con người, xóa nhòa đường biên tuổi tác. Song song đó, cái Đẹp cho phép vượt nhiều rào cản, đồng thời cũng thắng cả những động lực mâu thuẫn, trần tục, thường tình: Thơ không chỉ giải phóng như đã nói trên, mà còn tạo ra được sự chế ngự, bởi người thơ đích thực không ham sở hữu (avoir) mà chỉ muốn hiện hữu (être).

 

Nghe có vẻ lạ tai, nhưng hình như chính nhờ có nàng Thơ, chàng Miên Khương chúng ta mới đạt được mức “tiết chế” ấy, đến độ chấp nhận tình yêu ngay cả khi biết nó… không đi tới đâu nữa:

 

“…Yêu đương cung bậc trần gian

Kén chọn cho lắm cũng tan cuộc tình

Rồi mình trở lại với mình

Hư không buông trả, lặng thinh với đời

Trăm năm hứa hẹn bao lời

Cũng bay theo gió về nơi ngàn trùng…”          (sđd, tr.50)

 

Hoặc, khi cần, chàng biết tự tạo cho mình một lớp vỏ cứng, một thứ triết lý song song, giúp chủ thể đứng vững vàng trong tư thế sáng suốt:

 

“…Tôi ơi một cánh sao rơi

Hãy ôm vào mộng mà chơi với tình

Nếu thương hãy tự thương mình

Chứ không mơ tưởng cuộc tình trăm năm!...”    (sđd, tr.19)  

    

Một quan niệm hợp lý để bảo toàn tự do cá nhân, đạt mức «an nhiên tự tại» lý tưởng? Hay đúng hơn, chỉ đơn thuần là sự sòng phẳng tự nhiên, một khi con người đã tỉnh táo:         

 

“…Hết rồi một thuở đam mê

Yêu thương đa tạ. Trả về ngày xưa!”              (MTCA, tr.50)

 

Thưc ra, đây chỉ là nghịch lý: đối với một tâm hồn nghệ sĩ, làm gì có chuyện hết đam mê! Nhưng may là Thơ – nhờ vào cái Đẹp – có khả năng hóa giải được cả những đau khổ phát sinh từ tình yêu bằng sự nâng tầm cảm thức, gạn lọc cảm quan: tác giả đã chứng minh điều đó qua nhiều bài. Chẳng hạn, khi thất vọng, lời vẫn “giữ nếp” thanh lịch dù có buồn (hai tiếng“tình khờ” nghe thật dễ thương!), để rồi kết thúc bằng một đóm sáng tích cực ở cuối đường hầm:

 

“…Em hôm nay quá xa xôi

Mộng hoa khép kín, tình thôi, vắng hờ

Anh tìm lối cũ đôi bờ

Dang tay ướp mộng tình khờ đã phai

Thôi đành giũ áo sương mai

Tìm trong hương cũ một vài tịch liêu

Chiếu chăn ngày ấy bồng phiêu

Còn chăng chỉ những đìu hiu cuối trời

Một vùng biển động mù khơi

Cành đào năm cũ tả tơi nhạt nhòa

Ðộng hoa, nỗi nhớ em... và

Giao thừa trăng mọc giữa tà áo xanh.”        (HXMNB, tr.46)

 

Hai câu cuối độc đáo về cấu trúc lẫn hình tượng. Cách khép lại câu chuyện kể bằng lối dứt điểm bất ngờ như thế là một điểm son, và ta hãy còn gặp giống vậy trong bài thơ toàn “tông” buồn dưới đây, mà câu chót nghe chừng như “phát súng định mệnh” chỉa trên mọi ý định xoay chuyển gì khác:

 

“…Bây giờ người đã xa xôi

Yêu thương lạc bến bèo trôi rã dòng

Hoài niệm nhung nhớ chờ mong

Mảnh trăng vườn cũ lặng không mấy mùa

Cành trơ trong gió đu đưa

Cỏ cây cũng phủ mưa màu biệt ly

Nắng úa dâng sóng làm chi

Lòng tôi xây mộ từ khi xa người.”                    (sđd, tr.44)

 

 

Từ điểm cực tiểu mịt mùng trong quỹ đạo tình yêu đó, tác giả đã làm được bước nhảy vọt, chọn trên “đồ thị” cảm hứng của mình những tọa độ xa cao nhất, ứng với vùng cực đại ít khi hướng tới: Thơ lần này “nhập thế” giúp nhìn ra những giá trị cuộc sống thường nhật, mà anh cẩn trọng vinh danh qua một số chứng từ cảm động về những người thân yêu, gần gũi nhất.

 

Trước hết là thân mẫu, người đã khai sinh anh và – trong một chừng mực nào đó – cả Thi tập đầu tiên kia nữa, qua cái tên tựa tỏ rõ1:

 

“Con về mang nặng ưu tư

Mùa xuân đang tới mà như đông về

(…)

Thôi thì Mẹ hãy an ngơi

Con đây vẫn đứng bên trời đợi mong

Trải hồn dưới nắng khiết trong

Ðẫm hương sen nở nụ cười Mẹ trao.”              (sđd, tr.74)

 

Rồi đến người bạn trăm năm C.Q., nhân vật nữ thứ hai anh hàm ơn sâu sắc nhất trên đời. Lê Miên Khương đã làm không kém những người trước anh, chẳng hạn như Du Tử Lê/ Từ Công Phụng qua bài thơ phổ nhạc nổi tiếng của họ17. Nhưng anh không nói văn hoa cách điệu “ngực ngải môi trầm” theo kiểu Du Tử, mà dùng toàn những câu chữ giản dị trong suốt như chính bản chất sự chân thành:

 

“…Ngày hôm nay anh đã về bên em

Cho anh được cầm tay em hôn nhẹ

Và úp đầu vào lồng ngực bao dung

(…)

Anh đếm tóc em tìm sợi bạc màu

Qua năm tháng thăng trầm cùng mưa nắng

Ðắng cay tủi hờn em cam, thinh lặng

Làm thân cò gánh hạnh phúc cho anh…”        (sđd, tr.41)

 

Tác giả không chỉ đóng khung trong vòng gia đình. Anh còn bộc lộ lòng ngưỡng mộ đối với một người của công chúng khi ông ta từ giã cõi đời (LM Phan Đ.B., Paris), trên những ba trang Thi tập, dưới tựa đề Nhớ Thương Một Người Tử Tế, mà ta có thể ghi nhận vài nét chính:

 

“…Anh là người không bao giờ biết nói không

Luôn giúp tha nhân với nụ cười quảng đại

Con tim rộng lượng yêu thương không ngần ngại

Nên rước vào thân bao khổ ải trầm luân

(…)

Anh đi để lại đời trái tim rướm máu

Đầy yêu thương, anh cắt bỏ tơ vương

Đời đạo hạnh anh chối từ ngạ quỉ

Nơi anh về đầy ánh sáng với tình thương…”   (sđd, tr.10-12)

 

Trong bài, Lê Miên Khương xử dụng nhiều từ Phật giáo (ngạ quỉ, đạo hạnh, trầm luân) như muốn tạo hiệu ứng một sự hòa đồng tư tưởng trên nền tảng văn hóa dân tộc: một cái ”nháy mắt” văn học thân tình với vị linh mục quá cố, hay chỉ là xác tín cá nhân?

 

Việc xác định không mấy quan trọng. Chỉ thấy, tính tới đây, thi ca rõ có nhiều phép lạ: qua sáng tác, nhà thơ đã sống thực với tình yêu, đối thoại với quá khứ, nhận chân ý nghĩa cuộc đời trong từng ”sát-na” hiện tại và xa hơn nữa, tiếp cận cả với đấng siêu nhiên.

 

Vâng, tiếp sau dấu ngoặc ghi chú“(Trước tác theo một lời cầu nguyện)”, anh đã viết thẳng một mạch – không quan tâm đến gò bó vần điệu – bài Ngày Sắp Tàn Tôi Sợ Bóng Tối:

 

“…Ðầu óc tôi bây giờ hiểu chậm

Khó từ bỏ một thói quen quá khứ

Trong lúc đen tối nhất và đơn côi

Tôi đã nhận được ánh sáng của Ngài

Và may mắn đó đã thay đổi đời tôi

Biết rằng ngựa tôi có thể quen đường cũ

Ngày sắp tàn, tôi sợ bóng tối

Xin Ngài hãy ở bên tôi…”                              (sđd, tr.57)

 

Thường ít người chịu nhận khuyết điểm của mình được đến như thế. Sự khẩn thiết tăng lên theo với lòng thành; không phải chỉ riêng trong bài này mà ở nơi khác, tác giả cũng đã lặp lại lần nữa lời cầu xin:

 

“Xin Ngài hãy nói với tôi dù rất thầm thì

Và nhất là Ngài hãy thắp rực lên trong tôi ngọn lửa

Ðể cho tôi soi sáng lại đời mình…”               (sđd, tr.43)

 

Độc giả không quen với những tình huống tương tự sẽ khó lòng hiểu hết tâm trạng nhà thơ vào thời điểm ấy: đức tin nằm ngoài mọi lý giải. Song, để cảm thông với tác giả, ta cần phải lùi lại phần góc tối khi nãy, nơi thất thểu những câu thơ da diết, nơi hiện nguyên hình nỗi cô đơn sâu thẳm từ đáy lòng anh. Nó ẩn thân trong mỗi động tác nguyện cầu và liên tục rót vào tai điệp khúc tiếng thở dài u uẩn, bởi ”Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”:

 

“…Hôm qua không phải ngày mai

Hôm nay tình cũng nhạt phai khác rồi

Cuộc đời đầy những chia phôi

Mong đem ý thánh tô bôi tình người...”        (sđd, tr.67)

                             (…)

“…Bàn tay xưa ấm, nay còn ấm không?

Riêng tôi bốn mùa: mùa đông

Cành đời trơ lá, dòng sông lặng buồn...”     (sđd, tr.62)

 

Hàn Mặc Tử cũng đã từng chắp tay cầu xin Thượng đế. Nhưng Lê Miên Khương thì hoàn toàn khác, vì không cùng tâm thế và vấn nạn. Diễn ngôn giao cảm với Ơn Trên của anh, đúng hơn, chỉ là lời tạ lỗi của đứa con hoang trở về.

 

Nó chính là dấu hiệu của sự phục hồi và niềm hy vọng. Bởi tác giả, mặc cho phong ba thử thách trái tim lãng mạn, đã làm được việc sống trọn chữ Tình, dù có thể không đạt tới cái đích hữu danh thế tục thông thường (mà chắc gì anh đã muốn thế?). Nói cách khác, những mối tình không tên còn lại, chính ra, mới dễ hóa thành vĩnh viễn nhất: phải chăng đó cũng là một minh chứng hùng hồn cho vẻ đẹp khó ngờ của cái “siêu khả sắc” (suprasensible) cao ngất muôn đời trong triết học?

 

      (Còn tiếp)                                                         

                                                                                                                       

 

Chú thích


1 Đã được giới thiệu ở: https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=19867

2 Lê Miên Khương, Em Thánh Thiện Dạy Tôi Đôi Điều, NXB Hội Nhà Văn (tháng 3/2015)

3 Hoàn toàn không đánh giá hay phán xét, mà đây chỉ là một nhận xét. Mời xem thêm các phân tích trong một bài viết cách đây nhiều năm, về chủ đề không mòn cũ này: https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=24134

 

4 Marinat Prévot là dịch giả đáng chú ý gần đây của một số tác phẩm Việt Nam được nhắc tới trên mạng như:https://www.sudoc.abes.fr/cbs//DB=2.1/SET=1/TTL=1/REL?PPN=034307052 ;

https://www.dictionnaire-creatrices.com/direction-paulette-phan-thanh-thuy-marina-prevot

5 Kant là một trong triết gia đi xa và đào sâu nhất trên vấn đề tự do, để cuối cùng đi đến kết luận xem nó như một định đề của «lý tính thực hành (la raison pratique)»:

https://fr.wikipedia.org/wiki/Kant_et_la_libert%C3%A9#cite_ref-:1_5-0

6 Chính vì thế, ta có thể khẳng định quan niệm này về tự do là tương thích với quan điểm triết học Spinoza

7 Jean-Jacques Rousseau, Discours sur l’origine et les fondements de l’inégalité parmi les hommes (1754) [phiên bản kỹ thuật số của Jean-Marie Tremblay], tr.24-25, https://eet.pixel-online.org/files/etranslation/original/Rousseau%20JJ%20Discours%20sur.pdf

8 Pic de la Mirandole, Discours sur la dignité de l’homme (Jean Pic de la Mirandole – De la dignité de l’Homme – Fondamentaux.org) ; Mời đọc thêm: https://www.philomag.com/articles/pic-de-la-mirandole-un-sommet-de-lhumanisme-pour-aujourdhui;Biographie de PIC DE LA MIRANDOLE (1463-1494) : L'idée du microcosme et la « dignité de l'homme » - Encyclopédie Universalis ;

9 Mời xem đoạn « Le discours de Protagoras et le mythe de Prométhée » trong https://fr.wikipedia.org/wiki/Protagoras_(Platon)

10 Về sự siêu nghiệm (transcendance), mời xem bài viết trước đây về Mỹ Học : https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=19779

11 https://fr.wikipedia.org/wiki/Intrication_quantique ; https://theconversation.com/what-is-quantum-entanglement-a-physicist-explains-the-science-of-einsteins-spooky-action-at-a-distance-191927#:~:text=In%20the%20simplest%20terms%2C%20quantum,or%20what%20lies%20between%20them

12 « La poésie est communion, communication » (Paul Valéry, Cahier II du manuscrit de Charmes ; trích dẫn bởi  Florence de Lussy, Charmes d’après les manuscrits de Paul Valéry. Histoire d’une métamorphose, Paris, Minard, « Bibliothèque des Lettres Modernes », 1990-1996, Quyển I, tr.100).

13 Có thể xem qua  https://major-prepa.com/culture-generale/la-catharsis-chez-aristote/

14  Từ Công Phụng, Bây Giờ Tháng Mấy ; mời nghe hát bởi Trọng Tấn: Vidéos Bing

15 Kiên Giang, Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím, https://www.dutule.com/a3900/kien-giang-hoa-trang-thoi-cai-tren-ao-tim

16 https://www.youtube.com/@GiongCaThanhHien

17 Du Tử Lê (thơ Giữ Đời Cho Nhau,1970)/Từ Công Phụng (bài hát Tạ Ơn Em), https://www.dutule.com/a1128/ta-on-em

Bùi Đức Hào
Số lần đọc: 611
Ngày đăng: 29.12.2025
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Mừng và tiếc cho phim Quán Kỳ Nam - Nguyễn Anh Tuấn
Khao khát thể xác mãnh liệt trong “Đêm lạnh” của Đặng Xuân Xuyến - Giáp Kiều Hưng
Hồn thơ sâu lắng tình đời - Yến Nhi
Phim Mưa đỏ: Ba tình tiết điện ảnh dưới góc nhìn ký hiệu học và biểu tượng học - Nguyễn Anh Tuấn
Bài thơ ‘Đợi Xuân…’ của Đặng Xuân Xuyến - Trịnh Thị Nhâm
Trăng trong truyện ngắn “Kim yêu” của Đặng Xuân Xuyến - Trịnh Thị Nhâm
Cao Đông Khánh – mơ hồ hồn Việt thiên thu - Nguyễn Nguyên
Nhắm rượu với cưỡng Xuân - thơ Đặng Xuân Xuyến - Nguyễn Thanh Lâm
“Ai đó chết rồi chôn rồi hết” - thơ của người “bị bắt làm người” - Nguyễn Hoàn
Trò chuyện với Meta AI về “bài thơ áo trắng” của Trần Mạnh Hảo - Đặng Xuân Xuyến
Cùng một tác giả