Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
30.459 tác phẩm
2.720 tác giả
1.510
141.653.176
 
Hoàng Hạc Lâu / Lương Châu Từ / Tỳ Bà Hành
Khách sạn ngàn sao

Bài 07

黃鶴樓   HOÀNG HẠC LÂU

崔顥 (704~754) Thôi Hiệu (704~754)

 

昔人已乘黃鶴去,Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,

此地空餘黃鶴樓。Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.

黃鶴一去不復返,Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,

白雲千載空悠悠。Bạch vân thiên tải không du du.

晴川歷歷漢陽樹,Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,

芳草萋萋鸚鵡洲。Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.

日暮鄉關何處是,Nhật mộ hương quan hà xứ thị,

煙波江上使人愁。Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

 

HOÀNG HẠC LÂU (5) (KSNS©2025)

Người xưa cưỡi hạc bay về trời,

Nơi đây còn lại lầu Hạc thôi.

Hạc vàng vỗ cánh bay đi mãi,

Mây trắng nghìn năm lãng đãng trôi.

Lẳng lặng bóng cây Hán Dương (6) rợp,

Nức tiếng bãi Anh Vũ (6) chơi vơi.

Chiều hôm khắc khoải quê đâu tá?

Trên sông khói lượn sầu khôn nguôi.

o0o

(5) Hoàng Hạc Lâu được xây từ thời Tam Quốc tại núi Xà Sơn, thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc (TQ), kiến trúc 5 tầng chống đỡ bằng gỗ Lim không dùng đinh. Hoàng Hạc Lâu là một trong tứ đại danh lâu Trung Quốc, 3 danh lâu kia là Nhạc Dương Lâu ở thành phố Nhạc Dương, tỉnh Hồ Nam, Đằng Vương Các ở thành phố Nam Xương, tỉnh Giang Tây, và Bồng Lai Các ở thành phố Yên Đài, tỉnh Sơn Đông.

(6) Hán Dương: Hán Dương nằm trên hữu ngạn Hán giang, bên kia bờ tả ngạn là Vũ Xương nơi Hoàng Hạc Lâu toạ lạc. Hai khu này cách nhau bởi chiếc cầu Trường Giang Đại Kiều (長江大橋). Phía hạ lưu gần sát chiếc cầu này có một cồn (bãi) cát bồi cây cối um tùm, nơi bầy chim Anh Vũ (con chim két, con vẹt) thường đến tụ tập kêu vang trời. Bãi này ngày nay chỉ còn lại chút tàn tích.

 

 

 

Bài 16

 

涼州詞 LƯƠNG CHÂU TỪ

王翰 (687~735) Vương Hàn (687~735)

 

葡萄美酒夜光杯, Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi

谷飲琵琶馬上催。 Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.

醉卧沙塲君莫笑, Túy ngạo xa trường quân mạc tiếu,

古來征戰幾人回。 Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

 

LỜI CA KHÚC LƯƠNG CHÂU         (10) (KSNS©2025)

 

Rượu ngon bồ đào chén dạ quang,

Chực uống tỳ bà thúc rộn ràng,

Say nằm chiến địa đừng cười nhạo,

Mấy ai chinh chiến ca khải hoàn?

o0o

 

(10) Lương Châu là một trấn biên ải vùng Tây Bắc gần sa mạc Gobi, thuộc tỉnh Cam Túc (TQ). Đời Đường, đây là địa đầu giới tuyến trên Con Đường Tơ Lụa. Khi có ngoại xâm, quân nhà Đường kéo ra sa mạc đánh chặn quân thù. Chiến địa nơi sa mạc này nay vẫn còn được gọi là sa trường để chỉ chiến trường nói chung cũng từ đó mà ra. Rượu Hồ Đào (nho) Tây Lương Châu là rượu nho lâu đời nhất Trung Quốc, danh tiếng vang mãi đến ngày nay.

 

Bài 25

琵琶行  TỲ BÀ HÀNH

白居易(772~864) Bạch Cư Dị (772~864)

潯陽江頭夜送客,Tầm Dương giang đầu dạ tống khách,
楓葉荻花秋瑟瑟。Phong diệp Địch hoa thu sắt sắt.
主人下馬客在船,Chủ nhân hạ mã khách tại thuyền,
舉酒欲飲無管弦。Cử tửu dục ẩm vô quản huyền.
醉不成歡慘將別,Tuý bất thành hoan thảm tương biệt,
別時茫茫江浸月。Biệt thì mang mang giang tẩm nguyệt.
忽聞水上琵琶聲,Hốt văn thuỷ thượng tỳ bà thanh,
主人忘歸客不發。Chủ nhân vong quy khách bất phát.
尋聲暗問彈者誰,Tầm thanh âm vấn đàn giả thuỳ,
琵琶聲停欲語遲。Tỳ bà thanh đình dục ngữ trì.
移船相近邀相見,Di thuyền tương cận yêu tương kiến,
添酒回燈重開宴。Thiêm tửu hồi đăng trùng khai yến.
千呼萬喚始出來,Thiên hô vạn hoán thuỷ xuất lai,
猶抱琵琶半遮面。Do bão tỳ bà bán già diện.
轉軸撥弦三兩聲,Chuyển trục bát huyền tam lưỡng thanh,
未成曲調先有情。Vị thành khúc điệu tiên hữu tình.
弦弦掩抑聲聲思,Huyền huyền yểm ức thanh thanh tứ,
似訴生平不得志。Tự tố sinh bình bất đắc chí.
低眉信手續續彈,Đê mi tín thủ tục tục đàn,
說盡心中無限事。Thuyết tận tâm trung vô hạn sự.
輕攏慢撚抹復挑,Khinh lung mạn nhiên mạt phục khiêu,
初為霓裳後六么。Sơ vi Nghê thường hậu Lục yêu.
大弦嘈嘈如急雨,Đại huyền tào tào như cấp vũ,
小弦切切如私語。Tiểu huyền thiết thiết như tư ngữ.
嘈嘈切切錯雜彈,Tào tào thiết thiết thác tạp đàn,
大珠小珠落玉盤。Đại châu tiểu châu lạc ngọc bàn.
閒關鶯語花底滑,Gian quan oanh ngữ hoa để hoạt,
幽咽泉流水下灘。U yết tuyền lưu thuỷ hạ than.
水泉冷澀弦凝絕,Thuỷ tuyền lãnh sáp huyền ngưng tuyệt,
凝絕不通聲漸歇。Ngưng tuyệt bất thông thanh tiệm yết.
別有幽愁暗恨生,Biệt hữu u sầu ám hận sinh,
此時無聲勝有聲。Thử thời vô thanh thắng hữu thanh.
銀瓶乍破水漿迸,Ngân bình sạ phá thuỷ tương bính,
鐵騎突出刀鎗鳴。Thiết kỵ đột xuất đao thương minh.
曲終收撥當心畫,Khúc chung thu bát đương tâm hoạch,
四弦一聲如裂帛。Tứ huyền nhất thanh như liệt bạch.
東船西舫悄無言,Đông thuyền tây phảng tiễu vô ngôn,
惟見江心秋月白。Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch.
沈吟放撥插弦中,Trầm ngâm phóng bát sáp huyền trung,
整頓衣裳起斂容。Chỉnh đốn y thường khởi liễm dung.
自言本是京城女,Tự ngôn bản thị kinh thành nữ,
家在蝦蟆陵下住。Gia tại Hà Mô lăng hạ trú.
十三學得琵琶成,Thập tam học đắc tỳ bà thành,
名屬教坊第一部。Danh thuộc giáo phường đệ nhất bộ.

曲罷曾教善才服,Khúc bãi tằng giao thiện tài phục,
妝成每被秋娘妒。Trang thành mỗi bị Thu Nương đố

五陵年少爭纏頭,Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu
一曲紅綃不知數。Nhất khúc hồng tiêu bất tri số.
鈿頭銀篦擊節碎,Điền đầu ngân tị kích tiết toái,
血色羅裙翻酒污。Huyết sắc la quần phiên tửu ố.
今年歡笑復明年,Kim niên hoan tiếu phục minh niên,
秋月春風等閒度。Thu nguyệt xuân phong đẳng nhàn độ.
弟走從軍阿姨死,Đệ tẩu tòng quân a di tử,
暮去朝來顏色故。Mộ khứ triêu lai nhan sắc cố.
門前冷落車馬稀,Môn tiền lãnh lạc xa mã hy,
老大嫁作商人婦。Lão đại giá tác thương nhân phụ.
商人重利輕別離,Thương nhân trọng lợi khinh biệt ly,
前月浮梁買茶去。Tiền nguyệt Phù Lương mãi trà khứ.
去來江口守空船,Khứ lai giang khẩu thủ không thuyền,
繞船月明江水寒。Nhiễu thuyền nguyệt minh giang thuỷ hàn.
夜深忽夢少年事,Dạ thâm hốt mộng thiếu niên sự,
夢啼妝淚紅闌干。Mộng đề trang lệ hồng lan can.
我聞琵琶已歎息,Ngã văn tỳ bà dĩ thán tức,
又聞此語重唧唧。Hựu văn thử ngữ trùng tức tức.
同是天涯淪落人,Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân,
相逢何必曾相識。Tương phùng hà tất tằng tương thức.
我從去年辭帝京,Ngã tòng khứ niên từ đế kinh,
謫居臥病潯陽城。Trích cư ngoạ bệnh Tầm Dương thành.

潯陽地僻無音樂,Tầm Dương địa tích vô âm nhạc,
終歲不聞絲竹聲。Chung tuế bất văn ty trúc thanh.
住近湓江地低濕,Trú cận Bồn giang địa đê thấp,
黃蘆苦竹繞宅生。Hoàng lô khổ trúc nhiễu trạch sinh.
其間旦暮聞何物,Kỳ gian đán mộ văn hà vật,
杜鵑啼血猿哀鳴。Đỗ quyên đề huyết viên ai minh.
春江花朝秋月夜,Xuân giang hoa triêu thu nguyệt dạ,
往往取酒還獨傾。Vãng vãng thủ tửu hoàn độc khuynh.
豈無山歌與村笛,Khởi vô sơn ca dữ thôn địch,
嘔啞嘲哳難為聽。Âu á trào triết nan vi thính.
今夜聞君琵琶語,Kim dạ văn quân tỳ bà ngữ,
如聽仙樂耳暫明。Như thính tiên nhạc nhĩ tạm minh.
莫辭更坐彈一曲,Mạc từ cánh toạ đàn nhất khúc,
為君翻作琵琶行。Vị quân phiên tác Tỳ bà hành.
感我此言良久立,Cảm ngã thử ngôn lương cửu lập,
卻坐促弦弦轉急。Khước toạ xúc huyền huyền chuyển cấp.
淒淒不似向前聲,Thê thê bất tự hướng tiền thanh,
滿座重聞皆掩泣。Mãn toạ trùng văn giai yểm khấp.
座中泣下誰最多,Toạ trung khấp hạ thuỳ tối đa,
江州司馬青衫濕。Giang Châu tư mã thanh sam thấp.

o0o

1. 1.

 

 

 

 

TỲ BÀ HÀNH (KSNS©2025)

Bến Tầm Dương (11), tàn đêm tiễn biệt,

Hoa lá hiu hắt tiết thu sang.

Chủ xuống ngựa, khách vào khoang,

Rượu nâng chực uống sáo đàn khuyết thanh.

Buồn say lúc đêm tàn ly biệt,

Sông mênh mang bóng nguyệt chia phôi.

Tỳ bà văng vẳng chơi vơi,

Chủ quên về, khách thuyền lơi mái chèo.

Hỏi thầm đàn ai theo mặt nước?

Chưa kịp lời đàn dứt tiếng ngân.

Xin gặp thuyền bơi đến gần,

Khêu đèn, thêm rượu thêm lần tiệc đêm.

Nào tiếng mời lại xen tiếng đón,

Tỳ bà che gần trọn dung nhan.

Chỉnh dây khảy vài tiếng đàn,

Chưa thành giai điệu mà chan chứa tình.

Từng dây ấm ức hình như muốn,

Kể đời mình sa chốn nổi trôi.

Nhíu mày, ngón lướt một hồi,

Trải dài tâm sự chưa nguôi tấc lòng.

Chậm lướt, búng, nhẹ rung, móc, vuốt,

Diễn Nghê Thường (12) trau chuốt Lục Yêu (12) .

Dây lớn ào ạt thuỷ triều,

Dây nhỏ thút thít chứa nhiều oán than.

Âm thút thít xen đan ào ạt,

Xuống chậu ngọc từng hạt châu sa.

Tiếng Oanh thánh thót dưới hoa,

Tiếng nước băng rịn rỉ ra cuối gềnh.

Tiếng băng rỉ chênh vênh nghèn nghẹn,

Khúc chợt ngưng như nghẽn phím đàn.

U sầu, ấm ức, oán than,  

Giờ thì âm bặt hơn ngàn âm vang.

Như bình bạc vỡ toang tung toé,

Như tiếng thiết kỵ xé gươm đao.

Khúc tàn giữa phím vạch vào,

Bốn dây chập một tiếng gào oan khiên.

Thuyền đông, bè tây yên lẳng lặng,

Trăng trên sông bạc trắng mơ màng.

Trầm ngâm cài phím lưng đàn,

Chỉnh trang y phục dịu dàng làm vui.

Tự thuật mình gái nơi thành nội,

Nhà ở ngay dốc dưới Mô Lăng (13).

Mười ba tỳ bà đã rành,

Giáo phường đệ nhất nổi danh trong triều.

Khúc tàn từng được nhiều thán phục,

Đàn chị thường ghen tức điểm trang.

Ngũ Lăng (14) hoa miện tranh khăn,

Lụa hồng một khúc bao lần tiếng thơm.

Mải vui nhịp quên trâm lược vỡ,

Váy lụa hồng lỗ chỗ rượu lan.

Tháng ngày vui sướng miên man,

Xuân phong thu nguyệt lạc quan tuổi hồng.

Rồi em trai tòng quân, dì chết,

Tháng tới ngày qua hết tuổi xuân.

Ngựa xe trước cửa thưa dần,

Bóng xế mới lấy thương nhân làm chồng.

Trọng lợi, lái buôn không chiều vợ,

Tháng trước Phù Lương (15) chợ buôn trà.

Cửa sông xuôi ngược thuyền ra,

Quanh thuyền nước biếc trăng tà đêm đêm.

Mộng thấy thuở êm đềm lúc trẻ,

Ướt lan can đổ lệ trong mơ,

Tỳ bà nghe đã ngẩn ngơ,

Lại nghe thổn thức mấy bờ bi ai.

Cùng lưu lạc thiên nhai tủi phận,

Cho hay cũng lận đận như mình.

Từ năm ta biệt đế kinh,

Giam lỏng ngã bệnh ẩn mình Tầm Dương .

Tầm Dương hoang dã không âm nhạc,

Chẳng tiếng tơ, tiếng hát, tiếng đàn .

Nhà ở vùng trũng sông Bồn.

Trúc đắng đua mọc lau vàng xum xuê.

Sớm chiều nghe tiếng vọng về,

Quyên hót rướm máu vượn nghe tủi hờn.

Đêm trăng thu, sớm hoa xuân,

Không người đối ẩm rượu nồng nhạt thay!

Cũng nghe hò hát hay sáo trúc,

Nhưng chói tai khàn đục mất hay.

Tỳ bà thưởng thức đêm nay,

Như nghe tiên nhạc khiến tai thính dần.

Đừng đi vội hãy đàn thêm chút,

Tỳ Bà Hành một khúc phổ thơ.

Nể lời nán lại so tơ,

Tơ vang, tơ bặt, tơ chờ, tơ mong.

Tơ thống thiết trái ngang đứt quãng,

Lệ tràn ai cũng ráng nén tuôn.

Trong tiệc ai khóc nhiều hơn?

Giang Châu Tư Mã (16) ướt lườn áo xanh.

o0o

 

 

(11) Tầm Dương thuộc Giang Châu, nay là Cửu Giang, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Đây là nơi Bạch Cư Dị bị biếm chức năm 815. Bến Tầm Dương nằm ở đầu sông Tầm Dương, một khúc của sông Trường Giang ( sông Dương Tử).

(12) Nghê Thường và Lục Yêu là 2 khúc nhạc cung đình nổi tiếng đời nhà Đường. Nếu Nghe Thường là khúc hoà điệu múa như tiên nữ giáng trần thì Lục Yêu là vũ khúc khêu gợi qua nghệ thuật vũ nữ uốn éo lưng thon úp mở sau chiếc đai lụa màu lục.  
(13) Mô Lăng hay Hà Mô Lăng (蝦蟆陵 ) là một địa danh thuộc kinh đô Trường An (nay là Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc), nằm ở phía đông nam của kinh thành, gần khu Hàm Dương. Còn có tên gọi khác: Hạ Mã Lăng (下馬陵). Theo truyền thuyết, các quan lại đi ngang qua đây đều phải xuống ngựa (hạ mã) để tỏ lòng tôn kính vì đây là nơi chôn cất Đổng Trọng Thư (董仲舒) – một đại Nho thời Hán Vũ Đế. Thời nhà Đường khu này nổi tiếng có nhiều giáo phường (trung tâm đào tạo ca kỹ). Nơi nàng tỳ bà nữ ở ngày trước.

(14) Ngũ Lăng là khu quý tộc thời nhà Đường nằm về phía bắc kinh đô Trường An, khu này có 5 lăng mộ vua nhà Hán. Khu này là nơi các ca kỹ đến ca múa để các vương tôn công tử qua lại tặng triền đầu (khăn màu quấn đầu, hay choàng cố, cổ tay, cổ chân), tán tỉnh. Nơi nàng tỳ bà nữ trình diễn khi còn trẻ.

(15) Phù Lương là một địa danh thuộc tỉnh Giang Tây (TQ) cách bến Tầm Dương khoảng 100 cây số về phía đông-bắc. Đây là trung tâm buôn bán trà nổi tiếng nhất đời Đường, trà Phù Lương là cống phẩm cung đình.

(16) Giang Châu Tư Mã: Tư Mã  là chưc quan phụ trách lương thực và ngựa (hậu cần), không có thực quyền. Giang Châu là một địa danh xa xôi thời Đường, nơi Bạch Cư Dị bị đưa đi đày (biếm chức) vì bị cho là xúc phạm khi dâng sớ can vua Đường Hiến Tông.

 

 

 

Khách sạn ngàn sao
Số lần đọc: 649
Ngày đăng: 10.12.2025
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Bus sông* - Nguyễn An Bình
Không đề 10 / Không đề 11 / Không đề 12 - Hoàng Xuân
Mùa đông vu vơ - gởi chút tình thơ ngoài ấy. - Liên Phương
Trong bất thường tôi thấy - Khaly Chàm
Dấu bụi trần gian - Nguyễn An Bình
Phúng dụ đêm mèo - Nguyễn Anh Tuấn (Nghệ An)
Anh có kịp về sưởi ấm mùa Đông? - Võ Công Liêm
Từ đâu - Hoàng Xuân Sơn
Thở dài của mưa - Thy An
Cõi nhớ / Nhớ Huế! / Cảm ơn người không ghét ta - Hoàng Thị Bích Hà