Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
30.459 tác phẩm
2.720 tác giả
1.509
141.655.312
 
Chiếc ghe bầu
Thanh Phương

 

 

1. Ông tôi làm Lý trưởng.

Hồi phong kiến Pháp thuộc ông nội tôi làm Lý trưởng, sau này chính quyền tỉnh Quảng Nam còn phong thượng hàm Cửu phẩm Văn Giai. Có điều làm quan coi ngó làng xã nhưng ông tôi không biết chữ Quốc ngữ, tính ông ngay thẳng thực thà. Cũng vì nhà nghèo đông anh em nên năm 13 tuổi ông phải xa nhà làm phụ bếp ghe bầu cam chịu thất học kiếm tiền giúp đỡ cho nhà sau mỗi chuyến đi. Từ khi được dân làng tín nhiệm, ông làm việc rất năng nổ, có trách nhiệm bao quát tình hình. Mỗi lần có công văn chỉ thị ở trên gởi xuống thì ông giao cho trưởng nam (tôi kêu bác Ba) đọc hết ổng nghe, sau đó ổng hướng dẫn giải quyết mọi việc đâu vào đó đều êm xuôi, cấp trên huyện, phủ đều khen ngợi. Làm chức Lý trưởng nên trong nhà có 5 - 7 mẫu đất canh, thuê người làm ruộng, gieo mạ hằng kỳ, kinh tế gia đình bắt đầu khá giả, trong nhà mua 3 con trâu cày, mùa cấy mùa gặt nuôi hơn hai mươi người làm công, nhà cửa đông đúc.

Nhưng thật éo le, đến khi trong nhà có của ăn của để thì bà tôi bị bệnh lao chết sớm để lại các con nhỏ dại thật thương tâm, y là số bà tôi không hưởng được nhàn cư sung túc !

 

2. Bà nội thứ của tôi.

Để quán xuyến nhà cửa, coi ngó các con còn nhỏ dại, ông tôi lấy người vợ thứ hai ở Tam Quan, Bình Định. Sở dĩ ông lấy vợ xa vì trước đó trên chiếc ghe bầu ông tôi thường xuyên cập bến Tam Quan buôn nước mắm tĩn miền Trung, mỗi lần cập bến, các bạn ghe bầu thường ghé bà chủ quán uống rượu nhâm nhi, chờ qua đợt mưa gió mới căng buồm:

“Ghe bầu các lái đi buôn, đêm khuya ngồi buồn kể chuyện ngâm nga”.

Âu là duyên phận khi ông tôi đem lòng để ý bà chủ quán Tam Quan này, người góa phụ đẹp người đẹp nết. Thiệt là:

"Ai dìa ai ở mặc ai, áo già ở lợi chờ mơi mới dìa".

Sau này nhớ lại mối tình, ông nội tôi thường ngâm nga câu thơ trong bản tình ca Cửa Biển Tam Quan như sau:

“Buồm giương ba cánh sẵn sàng

Anh em ta hãy tiếp đàng giao thông

Mỹ Á cửa cạn Hòn Thương

Chạy hết mũi Trường đến mũi Bang Bang

Gát ra khỏi mũi Sa Huỳnh

Kìa kìa ngó thấy Tam Quan nhiều dừa

Nhớ lời nguyện ước năm xưa

Nam thanh nữ tú chưa vừa con ngươi

Gặp nhau chưa nói đã cười

Kìa mũi Từ Phú là nơi nhiều ghè...”           

 

3. Ông tôi bị câu lưu, mất chức Lý trưởng.

Đang làm Lý trưởng bỗng ông bị phe khác gièm pha kiện cáo rằng đương sự tự lấy tiền dân làng xây đình miếu không có sổ sách công khai, sử dụng riêng tư cho bản thân. Cấp trên nghe kiện cáo như vậy nên bắt buộc phải câu lưu ông một năm trời, câu lưu là dạng ở tù nhưng tự do hơn, ông chuyên phục dịch bưng cơm hầu nước các quan Bố chính tỉnh Quảng Nam bấy giờ. Ôi, làm quan cũng là thời vận, sau khi mản hạn câu lưu, ông cùng các con sắm chiếc ghe bầu buôn bán như hồi xưa trở lại, ghe bầu chở mắm tĩn, gạo từ Sài Gòn, Phan Thiết về miền Trung bán lại kiếm lời, gia đình ông tôi cũng dạng khá giả.

 

4. Giữa lúc kình cải, ba tôi nhảy xuống sông lặn vô bờ mất tích.

Tiếp đến phần sau, ông tôi sắm thêm thành hai chiếc ghe bầu buôn bán đường dài, chiếc thứ hai giao cho bác Ba tôi quản lý, có ba tôi và chú Út (tên là Chung) trên ghe.  Một hôm ba tôi và bác Ba kình cải về việc mua thuốc bệnh cho chú Út uống trể nải, chú Út đang bị nóng sốt mấy bữa nay rên hự hự miết thôi, ý là lổi do bác Ba chậm trể mua thuốc, vì bác Ba là anh đầu nên có trách nhiệm. Hai anh em kình cải hồi dài, giận quá ba tôi phóng cái ào xuống sông, lặn một hơi trồi lên là tới bờ, không quay lại ghe nữa, từ đó xem như ba tôi mất tích.

 

5. Máu phiêu lưu của ba tôi.

Lên bờ lang thang, ba tôi sống phiêu bạc từ Bình Dương đến Sài Gòn mấy năm trời. Sau này rảnh rỗi ba má tôi kể lại, lúc đó ba tôi làm đủ nghề kiếm sống, nào là khiêng vác hàng hóa từ các ghe thuyền, tới chợ búa trao đổi tùm lum. Một lần nhờ nhân duyên nào đó, ba tôi đổi nghề bốc vác, mở lớp dạy học trong xóm mà ông đang tạm trú, vô tình ông trở lại nghề thầy giáo như hồi ở Cẩm Thanh quê nhà, thời đó ông là thầy giáo nổi tiếng dạy học trò mà các làng khác đều tới ông tìm học. Nhưng có điều lạ cũng với nhân duyên ấy, tại đây ba tôi gặp và ở chung với người phụ nữ miền Nam, hai người có một đứa con kêu là cu Kích, giấy tờ không biết tên gì, rất dễ ghét, ba má tôi chỉ kể đến vậy.

 

6. Cả nhà về lại Quảng Nam.

Năm 1943 quân Nhật chiếm đóng Sài Gòn, sau đó quân đồng minh tuyên chiến với Nhật, đem tàu bay oanh kích Sài Gòn. Không ngờ bữa đó máy bay thả bom gần trúng ghe bầu ông nội tôi ở dưới sông, hất chiếc ghe văng lên trên bờ, thật là nguy kịch. Trước tình hình chiến tranh nổ ra, ông tôi chia hai hướng về lại Quảng Nam, nhóm thứ nhất gồm ông nội cùng các con dâu (bác Liên vợ bác Ba, má tôi là chị Tư vợ ba tôi, thím Năm vợ chú Năm Chung) thì đi tàu lửa về quê. Nhóm thứ hai gồm có ba tôi và chú Năm Chung (và người lái ghe nữa) thì đi ghe chở gạo về Quảng Nam bán, không ngờ chuyến đó lại được giá cao, lời nhiều. Riêng chỉ có bác Ba thì ở lại bán chiếc ghe bầu xong về sau, tóm lại mọi người đều về quê an toàn. Riêng chuyện tình cảm của ba tôi với người vợ hai của ổng, trước khi về quê, ổng có hẹn với người vợ miền Nam chờ khi nào bom đạn bình yên trở lại, ổng sẽ đi ghe bầu như lần trước vào Sài Gòn, gặp lại sau này, nhưng không ngờ chiến tranh kéo dài như mọi người đều biết, vô tình trở thành một cuộc chia tay đầy nước mắt.     

 

7. Má sai tôi mua mắm nhĩ ăn cơm.

Nhớ hồi tản cư Hội An ra Đà Nẵng sinh sống, gia đình tôi ở chợ Chiều, Mân Quang, có lần má sai tôi cầm tô tới tiệm tạp hóa mua nắm nhĩ ăn cơm, bao nhiêu xu quên mất rồi nhưng chỉ có một tô lưng, ứng với tiền mua mà thôi. Trong tiệm tạp hóa có 3 tĩn nước mắm bán lẽ giá khác nhau, tĩn mắm nhĩ ngon nhất là cao tiền nhất, sau đó là tĩn mắm nhĩ thường (xác cá ủ lần hai), tiếp theo là tĩn mắm dỡ (xác cá ủ lần ba, loại mắm này thường dùng nêm canh, kho cá). Tóm lại mắm nhĩ bấy giờ là do xác cá ủ lần một, lần hai và lần ba mà thành, chứ không có pha chế độc hại kiếm lời như thị trường hiện nay, mắm nhĩ loại nào cũng là nguyên chất từ cá biển cả.

Giờ đọc lại cuốn GIA PHẢ TỘC NGUYỄN do chú Nguyễn Ngọc Chung biên soạn, hình ảnh ngày trước cứ quyện mãi trí óc tôi, cả gia đình ông tôi trên chiếc ghe bầu chở đầy các lu mắm tĩn từ Sài Gòn, Phan Thiết về Quảng Nam buôn bán kiếm lời, làm tôi nhớ nhung quê tôi ngày đó quá chừng ./.

 

 

 

 

Thanh Phương
Số lần đọc: 445
Ngày đăng: 07.09.2025
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Ký ức sâu đậm của nhà báo - nhà thơ Nguyễn Hồng Vinh về Quảng Trị - Minh Tứ
Duyên nợ với người bạn Chăm - Minh Tứ
Bữa cơm ân tình giữa lòng Thủ Đô - Hoàng Xuân
Cuba - xa mà gần - Minh Tứ
Đài cơ vụ Phan Rang ngày đó - Thanh Phương
Nhớ Phạm Quang Phước (1945-2007), Gã nhà văn buồn rầu… - Phạm Nga
Cháo Ấu Tẩu miền cực Bắc - Phan Anh
Sài Gòn quen quá, lạ sao - Tiểu Lục Thần Phong
Mừng 55 năm trường âm nhạc dân tộc Việt Nam Phượng Ca (Pháp) ngân vang âm sắc Việt! - Võ Quê
Ăn tô Don Quảng Ngãi mà chạnh nhớ… - Phạm Nga
Cùng một tác giả
Tuất khùng múa lân (truyện ngắn)
Chùa Cầu Hội An (truyện ngắn)
Hoa cau quê ngoại (truyện ngắn)
Tiếng còi tàu (truyện ngắn)
Bài thánh ca buồn (truyện ngắn)
Tạ ơn (thơ)
Những chiếc móc áo (truyện ngắn)
Cô giáo Lan Anh (truyện ngắn)