Hình ảnh: Tác giả trước một cửa hầm thời chiến tranh biên giới, trên cao điểm 468, Vị Xuyên

Đền thờ Các anh hùng liệt sĩ Mặt trận Vị Xuyên
Tháng bảy, nhớ ngày “giỗ trận”, chúng tôi lại cùng nhau ngược về Tuyên Quang, lên núi Nậm Ngặt (xã Thanh Thủy) thắp hương tri ân, tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ trên cao điểm 468. Từ Km 0, trên đường Nguyễn Trãi, phường Hà Giang 1, sau khi đi qua quãng đường hơn hai chục cây số êm nhẹ như ru, theo hướng cửa khẩu, chúng tôi đã có mặt ở nhà tưởng niệm. Con đường từ phố núi đến cửa khẩu bây giờ thảm nhựa đen bóng, dễ đi và thật đẹp nhưng đoạn đường đi lên nhà tưởng niệm khó hơn. Đường đổ bê tông, đi bên các sườn núi chênh vênh, quanh co, khúc khuỷu, dốc như dựng ngược. Tuy vậy khi lên đến đài hương, mọi nỗi sợ hãi, mệt mỏi về con đường đèo dốc bỗng tan nhanh. Thay vào đó mọi người đều được mãn nhãn bởi cảnh đẹp ngút ngàn, trùng điệp, hùng vĩ của núi rừng biên viễn phương Bắc và thu được vào trong tầm mắt bao điều thú vị; đặc biệt được trải nghiệm cùng với những nỗi niềm rưng rưng xúc động dâng trào như những đợt sóng giữa không gian mênh mông, thoáng đãng, ngan ngát trầm hương thoang thoảng nhẹ đưa theo gió, giữa bốn bề mây trời bồng bềnh, trắng tựa như bông.
Đài hương Nậm Ngặt (nằm ở thôn Nậm Ngặt) trước đây là đài tưởng niệm 468 (cao điểm 468 thời chiến tranh biên giới), bây giờ được gọi là Đền thờ các anh hùng liệt sĩ Mặt trận Vị Xuyên. Ngôi đền này hiện nay đã trở là ngôi nhà chung của những chàng trai trẻ mãi không già, ở mãi với tuổi mười tám đôi mươi, hóa đá bất tử cùng đất trời, sông núi. Đây cũng là nơi gặp gỡ, tri ân, tưởng nhớ các liệt sĩ đã anh dũng chiến đấu bảo vệ biên cương của Tổ quốc trong khoảng mười năm, từ năm 1979 đến năm 1989 của đồng bào, đồng đội, thân nhân các anh hùng liệt sĩ trên mặt trận Vị Xuyên. Công trình Đền thờ các anh hùng liệt sĩ Mặt trận Vị Xuyên được đồng đội các liệt sĩ làm giữa lưng chừng núi Nậm Ngặt, trên diện tích hơn một ngàn mét vuông, ở chính cao điểm 468 và có các hạng mục: nhà tưởng niệm, đường dẫn lên nhà bia, nhà sắp lễ và một số hạng mục phụ trợ khác. Ngôi đền được làm từ công sức và tiền bạc của đồng đội và thân nhân các liệt sĩ trên mặt trận Vị Xuyên năm xưa và tặng lại cho mảnh đất địa đầu cực Bắc để khắc nhớ, tri ân những người đã anh dũng chiến đấu và ngã xuống trên dải đất biên cương kiên cường, bất khuất. Đồng thời cũng là một trong những nơi về nguồn, một địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống quật cường, yêu nước cho thế hệ trẻ trên miền cực Bắc.
Đứng từ đài hương Nậm Ngặt, nhìn theo hướng chỉ của người trông đền đang thuyết minh, chúng tôi thấy phía bên kia núi hiện lên các cao điểm của chiến trường năm xưa. Nào cao điểm 685, cao điểm 772 và xa hơn chút nữa là cao điểm 1509, cao điểm 1100, cao điểm 233 … Chiến tranh ác liệt, các cao điểm ấy còn được gắn liền với những tên gọi mà giờ đây đã trở thành các địa danh huyền thoại. Những địa danh mà bất ký lúc nào nghe thấy người ta không khỏi rợn người, như thể “Lò vôi thế kỷ”, “Thung lũng gọi hồn”, “Ngã ba cửa tử”, “Đồi băm thịt”, “Thác âm phủ” … Chiều trên đài hương, trong nắng chiều óng ả đang dần buông bên núi và giữa mênh mang trầm hương nhẹ bay theo gió, trí tưởng tượng bất chợt hiện lên tựa như một miền ký ức không thể nào quên, khiến nhạt nhòa con mắt. Một chiến trường mười năm pháo đạn trút xuống như gió bão trên dải đất khoảng chừng hai mươi cây số chứ không phải là ba mươi ngày đêm như chiến trường ở các miền biên giới khác trên dặm dài biên cương một ngàn hai trăm cây số ở phía Bắc, từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh). Những triền núi đá nham nhở, trắng xóa như vôi bởi đạn pháo cày xới đêm ngày ác liệt. Một miền biên cương với bao núi xương, sông máu của hơn bốn ngàn liệt sĩ và hơn chín ngàn thương binh đã hòa tan, thấm sâu vào trong từng tất đất, thớ đá. Và trong số ấy, đó đây, vẫn còn hơn hai ngàn người đang nằm rải rác trên khắp các triền đồi, dưới thung sâu hay bên các khe đá trên những sườn non cheo leo mà chưa được quy tập về với gia đình, quê hương. Thậm chí, phần lớn trong những nấm mồ đã được quy tập vào các nghĩa trang, xương cốt của những người ngã xuống cũng không được đầy đủ, tên tuổi còn chưa xác định được. Chưa hết, suốt dải biên cương bao la, người ta thấy trên những đồi núi nhấp nhô là các cánh rừng đang hồi sinh xanh biếc. Và, thấp thoáng, ẩn hiện trong đó là những nếp nhà sàn êm ấm, yên bình với làn khói lam chiều quấn quýt trên mái lá. Thoảng qua, người ta có cảm giác chiến địa năm nao giống như những vết thương đang lên da non. Nhưng thực ra, đằng sau cái yên tĩnh, thanh bình ấy vẫn có hàng ngàn héc ta đồi núi còn nguyên vẹn những vật liệu nổ của gần năm mươi năm trước do các trận địa của hai bên chiến tuyến để lại. Những núi đồi ấy vẫn còn khả năng đe dọa thương vong. Thế đấy, chiến tranh đã lùi xa nhưng cái chết dường như vẫn còn hiện hữu. Nhưng xúc động nhất, ngưỡng mộ nhất là những câu chuyện về ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của những chàng trai chưa một lần cầm tay bạn gái hay của những người cha chưa một lần được nhìn thấy mặt con được đồng đội kể lại. Bất giác, trong tiếng chuông vang rền, chúng tôi như thấy hiện về cái khí thế “Sống bám đá đánh giặc - Chết hóa đá bất tử” từng ghi trên báng súng của anh hùng Nguyễn Viết Ninh nay được khắc trên bức phù điêu đang vọng vào sông núi cùng lá cờ đỏ sao vang hiên ngang tung bay trong bão đạn của anh hùng Lê Trần Mãn để nhằm chặn đứng quân thù xâm lược, bảo vệ vẹn toàn một dải sông núi biên cương; để khẳng định chủ quyền đất nước và làm nên đất nước muôn đời mùa xuân.
Lặng nghe những câu chuyện kể về một thời hoa lửa của người trông đền, ngắm nhìn những rừng cây trên biên cương Vị Xuyên năm nào nay đang ngày một xanh rì trên các quả núi vẫn đang còn lỗ chỗ đạn pháo, bất chợt tôi nhớ đến câu nói trong truyện ngắn “Mùa lạc” của nhà văn Nguyễn Khải: “Sự sống nảy sinh từ trong cái chết, hạnh phúc hiện hình từ những gian khổ hy sinh” để hy vọng và tin tưởng vào tương lai của miền biên ải. Ngẫm nghĩ, sau tiếng súng xâm lược, bắt đầu từ ngày 17 tháng 2 năm 1979, cuộc chiến đấu chống quân xâm lược Trung Quốc diễn ra trên dọc dài biên giới phía Bắc chỉ trong vòng ba mươi ngày. Một khoảng thời gian không dài. Nhưng với vùng đất cực Bắc ở biên giới Tuyên Quang, đặc biệt là mảnh đất Vị Xuyên bé nhỏ năm xưa thì không phải như vậy. Đó là một cuộc chiến không hề ngắn ngày. Phải đến mười năm sau, tháng 10 năm 1989, hòa bình mới thực sự trở về với nơi này. Trong suốt mười năm trường chiến tranh liên miên, miền biên viễn cực Bắc ở Vị Xuyên không khi nào ngơi tiếng súng và mặc nhiên nơi đây đã trở thành tuyến đầu chặn bước quân thù vô cùng khốc liệt. Chẳng biết, có phải Vị Xuyên ở cái vị trí chiến địa hiểm yếu hay không mà quân giặc đã không ngừng đưa những quân đoàn tinh nhuệ nhất đến đây để luân chiến. Và cũng bởi cái dã tâm cướp đất điên cuồng như thế mà vô tình mảnh đất tươi đẹp nơi đầu nguồn sông Lô trên đất Việt đã biến thành một bãi chiến địa thảm khốc. Chợt nhớ, tôi đã có lần được nghe Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, vị tướng từng đi qua ba cuộc chiến, trực tiếp chỉ huy mặt trận Quảng Trị và mặt trận Vị Xuyên nói rằng: mặt trận Quảng Trị rất ác liệt nhưng mặt trận Vị Xuyên còn ác liệt hơn, thường ngày Trung quốc bắn từ ba vạn đến năm vạn quả pháo, mỗi quả pháo từ bốn mươi đến sáu mươi ki lô. Còn người trông đền thì kể, ác liệt nhất, có lần, trong ba ngày liền, lính Trung Quốc bắn hơn một trăm ngàn đạn pháo vào Vị Xuyên đến thị xã Hà Giang. Đỉnh điểm là ngày 12 tháng 7 năm 1984, trận đánh ở xã Thanh Thủy đã làm hơn một ngàn chiến sĩ của các Sư đoàn 312, 316, 313, 314, 322, Sư đoàn 3 Sao Vàng, Sư đoàn 325 và Sư đoàn 356 hy sinh. Trong đó, riêng Sư đoàn 356 có 593 cán bộ, chiến sĩ vĩnh viễn nằm lại cùng với núi rừng Thanh Thủy. Có lẽ vì thế, sau chiến tranh, đồng đội các liệt sĩ ở Sư đoàn 356 đã lấy ngày 12 tháng 7 hàng năm làm ngày “giỗ trận” và chọn đài hương 468 làm nơi “hội quân” cho cả người sống và những người đã mất. Chính trong những ngày giỗ trận này, có người chiến sĩ năm xưa, dù chiến tranh đã lùi rất xa nhưng vẫn còn đã nấc lên khi gọi tên đồng đội: “Về đây đồng đội ơi, người chiến sĩ sư đoàn/ Hà Giang đã ngưng chiến trận/ Về đây đồng đội ơi, những chiến hữu đơn vị bạn/ Đài hương 468 (bốn sáu tám) ta hội quân/ Hãy về đồng đội ơi! Còn nằm khe đá hay thung sâu .../ Về đây có nhau, như nguyện ước chiến hào .../ Được hòa cùng bầy trẻ thơ bên sông Lô hát yên bình/ Quân dân nồng ấm nghĩa tình …” (Lời bài hát “Về đây đồng đội ơi” của nhạc sỹ Trương Quý Hải). Giờ đây, gần nửa thế kỷ đã đi qua, mảnh đất địa đầu cực Bắc đã bình yên trở lại, cây cũng đã xanh biếc trên núi nhưng những vết thương mà cuộc chiến để lại quả thực vẫn chưa lành da. Còn bao ngôi mộ chưa biết tên trong nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia ở Vị Xuyên; còn biết bao liệt sĩ vẫn đang nằm lại giữa núi rừng biên giới. Tất cả sự thực ấy đang là một nỗi đau và mãi còn nhức nhối trong lòng đất mẹ. Nó ám ảnh không chỉ những người đồng đội mà cả những người sinh ra chưa hề biết chiến tranh, chỉ nghe nói về chiến tranh qua các câu chuyện kể.
Tháng bảy lại về, ngày giỗ trận Vị Xuyên không hẹn mà gặp, đồng đội và đồng bào trên khắp mọi miền đất nước đang tấp nập trở về bên đài hương 468 để hội ngộ và tri ân. Giữa nắng chiều buông mênh mông trên đỉnh núi Nậm Ngặt, khói hương nhạt nhòa trong ánh hoàng hôn hòa với thanh âm những tiếng đàn ca gọi bạn của những người cựu lính: “Hãy về đồng đội ơi! Người lính chiến mãi đôi mươi/ Về đây điếu thuốc lào, ấm chè chốt hồn nhiên nụ cười/ Bạn bè, đồng đội, người thân ôm nhau nước mắt chan hòa/ Biên cương hình bóng quê nhà” (Lời bài hát “Về đây đồng đội ơi” của nhạc sỹ Trương Quý Hải) vang vọng và ám ảnh khắp miền biên viễn xa xôi, làm lay động tâm can biết bao người đang sống. Chiều buông nhạt nhòa như thế xem ra cũng yên lòng. Trong trái tim mỗi người lính được trở về hay trong trái tim của mỗi người dân nước Việt, những liệt sĩ Vị Xuyên năm xưa vẫn còn sống mãi với đồng đội, với đồng bào, với quê hương, với đất nước thân yêu cho dù các anh đã hóa đá đi vào cõi bất tử thiên thanh.