Từ ngày 01-7-2025, Thành phố Vũng Tàu “không còn tồn tại” với tư cách là một đơn vị hành chính (vốn là một thành phố cấp 1 trực thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu). Nhân dịp này, VCV xin đăng bài viết của TS. Đinh Văn Hạnh vừa trình bày tại Hội thảo khoa học “Từ thành phố tự trị Cap Saint Jacques đến thành phố Vũng Tàu - Trung tâm du lịch chất lượng cao” (20-6-2025) như một sự “chậm lại” để cảm nhận về một thành phố biển đẹp vào loại bậc nhất của Việt Nam và cũng là một đô thị biển, đô thị du lịch độc đáo, giàu bản sắc…
KÝ ỨC VŨNG TÀU
Tóm tắt
Ký ức của một địa danh là tập hợp những tri thức, kinh nghiệm, sự kiện và biểu tượng trong quá khứ được cộng đồng gìn giữ, truyền tải và tái hiện trong đời sống hiện tại thông qua văn hóa như nghi lễ, lễ hội, nghệ thuật, kiến trúc, phong tục tập quán v.v… Ký ức không chỉ là “nhớ lại” quá khứ, mà chính là quá trình lựa chọn, sắp xếp và kiến tạo ký ức để phục vụ cho nhu cầu nhận diện bản sắc, tạo lập ý thức cộng đồng. Chừng 120 năm, trước khi người Pháp thành lập thành phố tự trị Cap Saint Jacques, đã có địa danh Vũng Tàu. Không phải chỉ trong thời điểm thành phố “Cấp” ra đời “hải đảo” Vũng Tàu mới có rất nhiều nguồn cư dân hội tụ về đây sinh sống, mà có thể nói suốt chiều dài lịch sử dường như Vũng Tàu tồn tại và phát triển trên cơ sở hội tụ của cư dân mọi miền, của nhiều nghề nghiệp - gắn với biển, liên quan đến biển… Bởi vậy, Ký ức Vũng Tàu là sự giao thoa đa tầng giữa ký ức của cư dân sống bằng nghề biển lâu đời và ký ức di trú của cộng đồng lao động dịch vụ nghỉ dưỡng, du lịch, khai thác dầu khí, của người nhập cư, nhiều nhất là từ miền Bắc, miền Trung… suốt hơn trăm năm qua và nhất là từ thập niên 1980 - 1990. Ký ức bản địa gắn liền với nghề cá, với tín ngưỡng thờ cá Ông, lễ hội Nghinh Ông, thờ Thuỷ long Thần nữ, Ngũ hành, Nghinh Bà - phản ánh mối quan hệ sâu sắc giữa con người với biển cả. Trong khi đó, ký ức hiện đại gắn với công nghiệp hóa, du lịch, kiến thiết đô thị và các di sản trong thời kỳ đầu người Pháp xây dựng đô thị như Bạch Dinh, biệt thự cổ, khách sạn lâu đời, trận địa pháo, hải đăng... Sự chồng lớp này tạo nên bản sắc đô thị biển - đô thị du lịch độc đáo của Vũng Tàu.
Tìm hiểu, chỉ ra những chồng lớp và đối chọi của các hệ ký ức tại Vũng Tàu: giữa ký ức của lớp ngư dân lâu đời (mà gọi là “bản địa” cũng không sai) và ký ức người nhập cư, giữa ký ức chính thức và ký ức cộng đồng, từ đó phân tích vai trò và xung đột của chúng trong quá trình hình thành bản sắc đô thị biển hiện nay hầu mong làm rõ động thái và cách các ký ức bị định hình, tái tạo, hoặc bị làm im lặng trong không gian đô thị đương đại… để từ đó nhận diện bản sắc văn hóa và nguồn lực hầu mong xây dựng thương hiệu du lịch, phát triển không gian di sản và thiết kế chính sách văn hóa. Việc nhận diện và bảo tồn ký ức đô thị còn góp phần nâng cao sự gắn bó cộng đồng, cân bằng giữa phát triển và bảo tồn, định hình một hình ảnh Vũng Tàu vừa truyền thống, vừa hiện đại, hướng tới xây dựng một trung tâm du lịch chất lượng cao.
Nội dung
Ngày 1 tháng 5 năm 1895, Thống đốc Nam Kỳ đã ban hành nghị định thành lập thành phố tự trị Cap Saint Jacques. Có thể nói đây là dấu mốc quan trọng đầu tiên kể từ khi người Việt đến làm ăn sinh sống trên hòn đảo này. Ngày 01-5-1895, không chỉ là dấu mốc quan trọng đối với Vũng Tàu khi nó là một trong ba đô thị đầu tiên ở Nam Kỳ được chính quyền thuộc địa ban hành nghị định thành lập ngay từ cuối thế kỷ 19 và khác với hai thành phố còn lại, Vũng Tàu được thành lập là vì mục đích xây dựng thành trung tâm nghỉ dưỡng, du lịch mà trước đó trên bãi biển này đã có những khách sạn sớm nhất Việt Nam được xây dựng. Để chuẩn bị cho việc thành lập thành phố tự trị Cap Saint Jacques, trước đó, ngày 27-2-1895, Hội nghị thuộc địa đã có phiên họp định hướng xây dựng Vũng Tàu thành một trung tâm tự trị (tách khỏi địa phận Bà Rịa, vốn trực thuộc từ ngày 7-7-1862) vì mục tiêu du lịch và nghỉ dưỡng… Do đó, ngày 1-5-1895 có thể xem là dấu mốc quan trọng của lịch sử ngành du lịch Việt Nam và cũng là khởi sự cho loại hình du lịch nghỉ dưỡng biển Việt Nam.
Trong các đô thị biển của Việt Nam, Vũng Tàu nổi bật không chỉ bởi địa thế đặc biệt: hội tụ của núi, biển, tài nguyên biển và đặc biệt là dầu khí, mà còn bởi chiều sâu lịch sử và sự đa tầng trong ký ức cộng đồng cư dân. Từ một làng chài cổ nơi có sơn thuỷ hữu tình với tín ngưỡng dân gian đặc trưng, đến một trung tâm khai thác dầu khí mang đậm dấu ấn công nghiệp hóa hiện đại, Vũng Tàu đã trải qua nhiều đợt di dân, chuyển hóa không gian và biến đổi bản sắc. Những lớp ký ức ấy không biến mất, mà chồng lấn, cạnh tranh và đôi khi bị làm mờ đi trong tiến trình đô thị hóa và phát triển du lịch…
Trong bối cảnh hiện nay, khi Vũng Tàu đang định hình bản thân như một “đô thị biển, đô thị du lịch”, ký ức văn hóa - lịch sử không chỉ là yếu tố nhận diện bản sắc, mà còn trở thành “tài nguyên mềm” quan trọng, đồng thời đặt ra những câu hỏi: ai được quyền ghi nhớ? Những ký ức nào được chọn để tôn vinh? Và điều gì đang bị quên lãng, bị thương mại hóa hay bị bóp méo? Những câu hỏi ấy mở ra hướng tiếp cận phê phán để hiểu rõ hơn cách Vũng Tàu kiến tạo bản sắc đô thị không chỉ qua không gian vật chất, mà qua cả “di sản ký ức” đang sống động trong cộng đồng...
1. Những lớp ký ức đan xen: ngư dân, người nhập cư và công nhân dầu khí
Ký ức cộng đồng sống bằng nghề đánh bắt hải sản
Địa danh Vũng Tàu nghĩa là “nơi tàu đậu” lần đầu tiên được ghi trong Tự vị Annam-Latinh của Bá Đa Lộc (sách in năm 1772-1773). Cũng khoảng thời gian đó, Vũng Tàu cũng được nhắc tới trong tác phẩm Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (năm 1776). Thực ra, vào thời điểm đó Vũng Tàu chỉ là cách gọi xác định vị trí ghe thuyền neo đậu. Phủ biên tạp lục cho biết Trấn Biên/ Đồng Nai có hai cửa biển quan trọng: một là cửa Cần Giờ, hai là cửa Cửa Lấp. Vùng Bà Rịa có đất tốt, dân cư trồng trọt, làm ruộng, khai thác sản vật rất thịnh vượng. Phía ngoài có một dãy núi dài chạy ra biển, gọi là núi Kỳ Vân, lại có núi Thùy Vân, chân núi có bãi cát lớn, thuyền bè thường neo đậu tránh gió mùa. Từ vị trí ghe thuyền neo đậu về sau Vũng Tàu thành địa danh. Nơi neo đậu của ghe thuyền buôn bán từ miền ngoài vào, miền trong ra này đã trở thành đầu mối thông tin cho biết nơi nào đang được mùa, nơi nào có sản vật gì để thuyền ghe tới đó buôn bán, trao đổi. Phủ biên tạp lục ghi Vũng Tàu là nơi “hải đảo” - điều này cho thấy vào thời điểm đó, Vũng Tàu được nhìn nhận là vùng đất ngoài khơi, tách biệt với đất liền.
Ngày nay chúng ta thấy và xem Vũng Tàu như một bán đảo trải dài từ Ẹo Ông Từ và giới hạn bởi núi Lớn, núi Nhỏ với ba mặt giáp biển. Thực ra, cho đến cuối thế kỷ 19, khi người Pháp chưa làm cầu Cỏ May, chưa đổ đất làm con đường nối Bà Rịa với Vũng Tàu thì từ ẹo Ông Từ đến Bến Súc (quá bên kia cầu Cỏ May) là cả một vùng sông nước. Sông Cỏ May có bờ trải rộng với rừng đước, rừng mắm ngập mặn... kể cả khi triều hạ muốn qua lại nơi đây cũng phải dùng thuyền. Ghe thuyền từ phía Bắc vào Đồng Nai, Gia Định có thể vào cửa Cần Giờ hoặc cửa Lấp để từ đó về sông Lòng Tàu, Soài Rạp, Đồng Tranh, Nhà Bè, Đồng Nai… Từ miền trong cũng theo đường ấy mà ra Trung hay ra Bắc. Giáp nước Vũng Tàu là nơi mà “một trăm ông lái làu làu” phải ghê, không phải là hải trình thuận lợi.
Vũng Tàu không rộng lại bao quanh là nước làm cho không gian của vùng đất như chỉ có trời và biển…
Là hải đảo nhưng Vũng Tàu có dạng bờ rất độc đáo. Bên ngoài là biển, tiếp đến cồn cát và phía trong là bàu, hồ. Dạng bờ: bờ biển - cồn cát - bàu hồ chạy song song suốt Bãi Sau, kéo dài từ sát chân núi Nhỏ lên quá khu Chí Linh, Trại Nhái, ăn ra cửa Lấp (nhưng ở đây bị phù sa sông Cỏ May bồi lắng nên rất cạn vì vậy mà nước bàu Sen vẫn ngọt). Chúng tôi muốn mô tả hình thể dạng bờ này vì nó rất giống với hình thể dạng bờ phổ biến của các làng cá duyên hải miền Trung, trong khi kiểu dạng bờ này hoàn toàn không có từ vịnh Ghềnh Rái trở xuống phía Nam. Tất nhiên hiện nay dấu vết cồn cát chỉ còn vài đoạn như ở khu nhà ở Ngọc Tước, khu ra-đa quân đội (Chí Linh) và hồ thì còn những đứt đoạn của bàu Sen, bàu Trũng, “Cống Hộp” mà chúng ta dễ dàng hình dung… Dạng bờ này rất thích hợp cho cư dân nghề cá nhưng đã nhường chỗ cho những công trình kiến trúc, cho đường sá và đô thị hoá…
Ngư dân Vũng Tàu, đặc biệt là các cộng đồng ngư dân sinh sống lâu đời tại Bãi Trước, Bãi Sau, Bến Đình, Bến Đá, Rạch Dừa… sở hữu một ký ức gắn chặt với biển như là không gian sinh tồn, linh thiêng và biểu tượng tâm linh. Ký ức của họ được thể hiện qua hệ thống miếu thờ cá Ông, lễ hội Nghinh Ông, tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Bà và những truyền thuyết về long mạch biển khơi. Biển không chỉ là nơi cung cấp nguồn cá, mà còn là không gian thiêng liêng được nhân hóa, nơi "ông cá Voi" từng cứu người vượt bão, từng cứu người khi ghe thuyền gặp sự cố ngoài khơi, nơi có "giếng trời" nối giữa âm dương. Ký ức của ngư dân gắn liền với biển cả như một thực thể thiêng liêng và cũng là sinh kế. Từ các nghi lễ như lễ cầu ngư, tục thờ cá Ông đến tri thức bản địa về dòng chảy, mùa cá, thời tiết - tất cả đều là hình thức ký ức sống động được thực hành và truyền đời. Những ký ức này được truyền qua thế hệ bằng lời kể, tục ngữ, nghi thức, thực hành hàng năm. Các lão ngư vẫn còn nhắc đến chuyện đi biển dựa theo lịch âm, gió mùa và dấu hiệu tự nhiên, những tri thức kinh nghiệm không nằm trong sách vở nhưng ăn sâu vào tâm thức cộng đồng. Trong cách kể của họ, Vũng Tàu là nơi "ở giữa trời và nước" (hải đảo), một bản thể trung gian đầy thiêng liêng, có quan hệ hài hòa giữa người - thần - biển. Đời sống tâm linh, thực hành tâm linh ăn sâu trong đời sống cộng đồng. Những ký ức này xây dựng nên một thế giới quan đặc thù, trong đó biển không chỉ là tài nguyên mà là bạn đồng hành và thử thách. Nhưng những ký ức này chỉ còn ẩn chứa trong một số thực hành tín ngưỡng của ngư dân ba làng Thắng, tiền thân của thành phố Vũng Tàu. Quá trình hiện đại hóa đã tạo ra sự xói mòn, một số nghi lễ mất dần ý nghĩa. Những nghi lễ gắn với biển dần phai nhạt và quan hệ giữa con người với biển chuyển từ thiêng liêng sang công cụ. Không gian ngư trường bị thu hẹp và nghề cá truyền thống đứng trước nguy cơ mai một. Trong bối cảnh vừa có hoạt động khai thác hải sản truyền thống, vừa trải qua đô thị hóa mạnh mẽ, thì không gian cư trú, không gian ký ức - nơi mà những trải nghiệm tập thể, những hệ thống tri thức, tín ngưỡng và quan hệ cộng đồng vốn được định hình, bảo lưu lâu đời đã xẩy ra những va chạm ký ức.
Ký ức của những người tìm bến đỗ mới - chủ thể kiến tạo
Đô thị Vũng Tàu không lớn, được thành lập khá sớm bởi ý chí của chính quyền chứ không phải hình thành từ một trung tâm buôn bán hay thị tứ. Vì vậy, từ sớm Vũng Tàu đã là nơi nhập cư từ nhiều nguồn và người ta đến Vũng Tàu vì nhiều lý do.
Theo tài liệu của người Pháp, năm 1901, dân số Vũng Tàu vào khoảng 5.690 người, trong đó có đến 1.282 người nước ngoài, 4.408 người Việt. Nhưng cư dân "bản địa", người gốc Vũng Tàu, trước đó chỉ có không quá 400 người, bằng 9,05% dân số lúc chưa tăng trưởng. Trong vòng chưa đến 5 năm cuối thế kỷ 19, kể từ khi thành phố tự trị được thành lập, dân số Vũng Tàu tăng lên 14 lần. Có thể xem đây là sự tăng trưởng dân số đột biến lần thứ nhất của Vũng Tàu.
Vào quãng thời gian đầu của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp, là một nơi tập trung nhiều người Pháp (đồn lính và người Pháp tập trung đến nghỉ mát, chữa bệnh...), Vũng Tàu chịu nhiều ảnh hưởng của sự đổi thay, nhất là trong lĩnh vực chính trị, quân sự của người Pháp với mối quan hệ mới với người Việt. Dân số Vũng Tàu lại một lần nữa tăng lên nhanh chóng vào thời kỳ này. Niên giám thống kê Đông Dương (1913 - 1921) cho các con số về sự hiện diện của người Bắc và Trung Kỳ tại 22 khu vực trung tâm của Nam Bộ là 23.000 người. Trong đó, riêng Vũng Tàu có đến 4.570 người Bắc và Trung Kỳ chuyển tới, cao nhất chiếm 20%. Thực ra, đây chỉ mới nói sự tăng dân số cơ học của Vũng Tàu ở vào thời kỳ đó trên khía cạnh người Bắc và Trung Kỳ chuyển tới Vũng Tàu của cư dân trong vùng. Trong vòng 5 năm (1915 - 1920, theo niên giám) dân số Vũng Tàu tăng lên ít nhất là 20%. Thực tế cho thấy hầu hết các công trình kiến trúc phục vụ du lịch của người Pháp ở Vũng Tàu đều được xây dựng trong quãng thời gian này.
Trong giai đoạn 1945 - 1975, dân cư Vũng Tàu có nhiều biến động, có những thời điểm Vũng Tàu trở nên đông đúc, nhưng người ta chú ý nhiều đến sự dịch chuyển dân cư liên tục của một nơi nghỉ dưỡng, phục vụ cho bộ máy chiến tranh hơn là những ký ức đọng lại.
Những năm 1930 đến 1945 dân số Vũng Tàu giao động từ hơn 8.000 đến 9.000 người.
Năm 1954, sau Hiệp định Genève đồng bào Công giáo được đón tiếp định cư tại Bến Đá, Thắng Nhì, Thắng Nhất, Rạch Dừa, Phước Thắng. Dân số Vũng Tàu từ 11.263 người (năm 1953) tăng lên tới 29.390 người (năm 1955), tăng hơn 2,6 lần.
Trong những năm 1954 - 1975, Vũng Tàu tiếp tục được chính quyền Việt Nam cộng hoà xây dựng thành một thành phố du lịch và nghỉ dưỡng của miền Nam. Cơ sở dịch vụ, phục vụ cho việc ăn chơi, giải trí của các cố vấn Mỹ và các quan chức chính quyền Sài Gòn được đầu tư xây dựng (khu Lam Sơn, các khách sạn Bãi Trước). Năm 1973, dân số Vũng Tàu lên đến 119.300 người nhưng đã giảm mạnh trong năm 1975.
Trong những năm thực hiện Đổi Mới và công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân số Vũng Tàu tăng lên nhanh chóng mà mốc khởi đầu là từ khi Quốc hội ra nghị quyết thành lập Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo (ngày 30 tháng 5 năm 1979). Nếu như năm 1978 Vũng Tàu chỉ hơn 87.000 người thì trong những năm 1980, 1981, Vũng Tàu đón tiếp gần 10.000 cán bộ, kỹ sư chuyên môn từ nhiều đơn vị sự nghiệp, ngành nghề, xây dựng và quân đội. Thành phố có hơn 5.700 là cán bộ công nhân viên Nhà nước (tăng lên gấp 3,5 lần so với trước đó). Ngoài ra, Vũng Tàu cũng tiếp đón hơn 2.000 cán bộ, chuyên gia Liên Xô đến làm việc trong Liên doanh Vietsovpetro.
Tính đến năm 2022, dân số thành phố Vũng Tàu được ước tính vào khoảng 530.025 người. Trước đó, cứ mỗi 5 năm tăng thêm khoảng hơn 17.400 người. Hiện tại, không có số liệu cụ thể về tỷ lệ người từ các vùng miền khác đến định cư tại Vũng Tàu nhưng với vai trò là một trung tâm kinh tế và du lịch quan trọng, Vũng Tàu đã thu hút một lượng đáng kể người nhập cư từ các vùng khác. Cảm nhận đó là rõ ràng.
Cũng xin nói thêm ngay, mỗi lần Vũng Tàu tăng dân số là thời kỳ thành phố có những bước phát triển vược bậc (và đôi khi gây cảm giác bất ngờ). Vũng Tàu phát triển, hấp dẫn nhiều người đến làm ăn sinh sống và sự hợp sức của trí tuệ và nguồn lực của nhiều người đã giúp Vũng Tàu phát triển.
Nếu ký ức của ngư dân bản địa mang tính truyền đời, gắn với đất - nước - tổ tiên, thì ký ức của người nhập cư lại khởi sinh từ sự chia xa, ẩn chứa hy vọng. Họ đến thành phố biển Vũng Tàu với những lý do khác nhau: mưu sinh, tái định cư, hợp lý hoá gia đình, quy tụ bà con anh em, hoặc đơn giản là để tìm một cơ hội sống mới. Họ mang theo những hệ giá trị, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng và cả nghề nghiệp khác biệt. Trong cộng đồng ngư dân, họ là “người ngoài”. Họ vừa đối diện với ranh giới văn hóa do cộng đồng bản địa đặt ra, vừa âm thầm kiến tạo nên những không gian mới tại các khu dân cư do họ lựa chọn mà ít nhiều có những điểm chung của nghề nghiệp, của vùng miền, thậm chí những khu chợ tạm mà ở đó có những loại thực phẩm truyền thống của những người có cùng sở thích và thói quen... Chính họ là những người âm thầm định hình lại không gian sống, đóng góp vào sự đa dạng của ký ức vùng biển. Những con phố nhỏ hình thành từ các dãy nhà chòi của dân di cư nghèo, những quán ăn mang khẩu vị xa lạ, những nghề thủ công lạ lẫm, tất cả đều là dấu vết của ký ức nhập cư bền bỉ nhưng ít được ghi nhận. Theo thời gian định hình nên những giá trị. Ký ức của những người nhập cư không mang tính thiêng liêng như của ngư dân, mà mang tính sinh tồn và linh hoạt, luôn ở trạng thái thích ứng và tự tái tạo. Khi Vũng Tàu trở thành trung tâm khai thác dầu khí đầu tiên của cả nước, ký ức về công cuộc “đi tìm vàng đen” gắn liền với hình ảnh những người thợ giàn khoan, kỹ sư Liên Xô và phong trào xây dựng mới trở nên sâu đậm và lan toả. Ảnh hưởng của họ lên ký ức không gian là sâu sắc, vì họ gắn liền với sự biến đổi hạ tầng, môi trường và cả cấu trúc lao động địa phương. Họ trở thành chủ thể kiến tạo.
Để dễ hình dung, chúng tôi xin so sánh ký ức của cư dân bản địa và cư dân mới ở Vũng Tàu để thấy rõ hơn quá trình chồng lớp ký ức đô thị, cũng như sự giao thoa - cạnh tranh - đan xen trong việc hình thành bản sắc văn hóa đô thị (và đây cũng là cơ sở để chúng tôi đưa ra bản sắc đô thị biển Vũng Tàu trong mục 3. dưới đây).
|
Nội dung so sánh
|
Ngư dân
|
Cư dân mới
|
|
Bối cảnh hình thành ký ức
|
Ngư dân, dân ven biển, tín ngưỡng dân gian, làng chài truyền thống
|
Lao động dầu khí, cán bộ kỹ thuật, dịch vụ du lịch, dân nhập cư sau 1975 (chủ yếu từ miền Bắc)
|
|
Thời điểm gắn bó với Vũng Tàu
|
Tồn tại từ trước thế kỷ 20 đến nay
|
Giai đoạn từ cuối thập niên 1970 1980 đến nay
|
|
Không gian sống và cảm thức địa lý
|
Gắn bó với làng chài, các khu vực như Bãi Trước, Bãi Sau, Bãi Dâu, Bến Đá, Bến Đình, các làng Thắng…
|
Tập trung quanh các khu đô thị mới như phường 7, Rạch Dừa, khu dầu khí, nơi có hạ tầng kỹ thuật, cơ sở du lịch.
|
|
Cảm thức không gian gắn liền với biển cả - linh thiêng - hiểm nguy, thể hiện qua các tục thờ Cá Ông, Thuỷ Long, Bà Ngũ hành, Dinh Thắng Tam, Hòn Bà…
Không gian gợi nhớ là thiên nhiên gần gũi: núi - biển - gió - đồi, bãi
|
Không gian ký ức gắn với sự hiện đại hóa, “đô thị hóa”, biểu tượng như khách sạn, nhà tập thể, khu công nghiệp, nhà máy, cảng biển.
Cảm thức về một Vũng Tàu của cơ hội, phát triển, chuyên môn kỹ thuật.
|
|
Nghề nghiệp và cấu trúc ký ức lao động
|
Ký ức nghề nghiệp gắn với ngư nghiệp truyền thống: đánh bắt cá, làm mắm, chế biến hải sản.
|
Lao động trong ngành công nghiệp dầu khí - kỹ thuật cao, mang tính hệ thống, chuyên môn hóa.
|
|
Lao động thủ công, phụ thuộc vào tự nhiên, tạo ra ký ức bấp bênh nhưng mang tính cộng cảm cao, vì mọi người chia sẻ nỗi lo sóng gió.
|
Ký ức gắn với sự “khai phá hiện đại”, hình ảnh “anh hùng lao động”, xây dựng từ con số 0.
|
|
Truyền đời qua gia đình, làng xóm - tạo ra tính bền vững của ký ức nghề.
|
Có yếu tố ký ức lý tưởng hóa, mang tinh thần xây dựng đất nước sau chiến tranh.
|
|
Tín ngưỡng - nghi lễ - biểu tượng ký ức
|
Các lễ hội Nghinh Ông, Nghinh Bà là trung tâm ký ức tâm linh: tái hiện mối quan hệ giữa con người - biển cả - linh hồn ông Nam Hải.
|
Nhiều người theo tôn giáo (Phật giáo, Thiên Chúa giáo) nhưng ít gắn với tín ngưỡng địa phương.
|
|
Có tín ngưỡng thờ Mẫu, thần biển, bà Ngũ Hành - pha trộn giữa Đạo Mẫu và tục thờ tự dân gian.
|
Các nghi lễ tập thể thường gắn với cơ quan, nhà máy, lễ tổng kết - khen thưởng - ngày thành lập ngành…
|
|
|
Ký ức biểu tượng thường xoay quanh các kiến trúc hiện hữu trong không gian: Tượng Chúa Kitô, Bạch Dinh, Hải đăng (du lịch) hoặc giàn khoan, ống dẫn dầu (ngành nghề).
|
|
Diễn ngôn ký ức và truyền thông
|
Truyền miệng qua huyền thoại dân gian, truyện kể dân gian về biển, ông Nam Hải, ghe thuyền, cá dữ, sóng lớn…
|
Ký ức thường được viết lại, ghi chép, trình bày trong báo cáo ngành, tạp chí kỹ thuật, hồi ký cán bộ.
|
|
Ký ức đan xen giữa thực tế và huyền thoại, mang yếu tố huyền ảo và linh thiêng.
|
Tính chất “tư liệu hóa” cao, nhưng lại thiếu yếu tố cảm xúc gắn kết với không gian tự nhiên.
|
|
Cảm thức bản sắc và ký ức đô thị
|
Có cảm giác “chúng tôi là người gốc Vũng Tàu” - ký ức giúp duy trì tính cộng đồng - tính địa phương.
|
Mang cảm giác là người “kiến tạo đô thị mới” - ký ức của sự tái thiết và xây dựng.
|
|
Nhưng cũng cảm thấy bị “lấn át” bởi làn sóng hiện đại hóa, du lịch hóa.
|
Có sự tự hào về thành tựu kinh tế, xây dựng đô thị nhưng đôi khi thiếu sự gắn kết văn hoá bản địa.
|
2. Không gian ký ức và biểu tượng bị du lịch hóa
Vũng Tàu là thành phố du lịch biển, lịch sử phát triển cho thấy Vũng Tàu là một trường hợp điển hình về sự tái cấu trúc ký ức cộng đồng trong không gian đô thị ven biển chịu tác động của nhu cầu du khách.
Có thể dễ dàng nhận thấy ở Vũng Tàu hiện tồn tại hai loại di tích. Đó là di tích gồm những công trình kiến trúc gắn với tâp tục, tín ngưỡng, sinh hoạt văn hoá tinh thần mà ngư dân là chủ thể như đình thần, chùa, lăng Ông, miếu Bà… tại Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam, gắn liền với những thiết chế này là các lễ hội, nghi thức thờ cúng. Loại di tích thứ hai đó là các công trình kiến trúc như Bạch Dinh, Hải đăng, tượng Chúa Kitô trên Núi Nhỏ, các biệt thự cổ thời Pháp, trận địa pháo cổ… Những công trình này từng mang dấu ấn chính trị - tôn giáo - lịch sử sâu sắc. Khi Vũng Tàu trở thành thành phố du lịch, nghỉ dưỡng thì những công trình này là sản phẩm du lịch, là điểm đến của du khách, check-in với kiến trúc đẹp, với không gian mát mẻ, trước mặt là biển bao la, sau tựa lưng vào núi vững chãi... Du khách ít nhắc đến các xung đột lịch sử vốn là nguồn gốc của nó. Ngoài hai loại di tích trên, Vũng Tàu còn có khá nhiều di tích lịch sử cách mạng, nhưng phải nói ngay giá trị của nó chủ yếu là cột mốc ghi dấu sự kiện, chưa được quan tâm nhiều để có khả năng thu hút thành điểm du lịch…
Theo nhân học ký ức, không gian đô thị như Vũng Tàu là nơi đan xen giữa các ký ức cộng đồng và ký ức du lịch. Các làng Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam cùng hệ thống đình thần, chùa miếu, lăng Cá Ông và các truyền thuyết dân gian về ba ông đội phản ánh ký ức lập làng, ký ức cư dân ngư nghiệp và hình thái tín ngưỡng dân gian đặc trưng miền biển. Tượng Chúa Kitô Vua trên núi Nhỏ, Tượng Đức Mẹ Bãi Dâu không chỉ là một địa điểm tôn giáo mà còn là biểu tượng thị giác của thành phố bởi vị trí địa lý giao thoa ấn tượng. Một số tượng đài, nhà bảo tàng và công trình thời hiện đại (như Bạch Dinh, các P.O thời Pháp hay di tích lịch sử cách mạng) là lớp ký ức gắn với ý thức xã hội.
Nếu lễ hội Nghinh Ông là nghi lễ thiêng liêng trong tín ngưỡng ngư dân gắn với ký ức của người dân địa phương về các bãi biển - vốn là nơi sinh kế, gắn với chài lưới thì nay trở thành hoạt động lễ hội nằm trong chiến lược xúc tiến du lịch, ký ức về các bãi biển dần bị thay thế bởi ký ức du lịch, hình ảnh “bãi biển sinh kế” thành “bãi biển tiêu dùng” cho du khách ngắn ngày. Các nghi thức rước Ông, Nghinh Bà bị rút ngắn, thêm phần biểu diễn văn nghệ, múa lân, quay phim, chụp ảnh… Sự linh thiêng bị thay thế bằng yếu tố trình diễn, tính cộng đồng bị thay bằng tính khán giả. Sự thương mại hóa này làm thay đổi vai trò của ký ức: từ trải nghiệm sống thành nội dung tiêu dùng. Đây là quá trình mà các nhà Nhân học gọi là “di sản hóa ký ức” (heritagization of memory). Tầng lớp biểu tượng bị làm phẳng. Không gian được cắt rời khỏi lịch sử địa phương, trở thành biểu tượng thị giác, “dễ hấp thu” với du khách, nhưng mất dần chiều sâu ký ức bản địa.
Xin lấy thêm một trường hợp khác. Thực tế cho thấy khi người dân địa phương không còn là chủ thể ký ức mà chỉ là người phục vụ cho ký ức du khách thì những câu chuyện của họ không còn được phản ánh đầy đủ. Kể về nguồn gốc ba làng “Thắng” Vũng Tàu, sách Vũng Tàu xưa và nay của Huỳnh Minh viết: “Vua Gia Long muốn bảo vệ thương thuyền người Việt, phái ba đội quân đi trên ba chiến thuyền, mỗi chiếc và mỗi đội quân do một viên đội trưởng điều khiển… Khi đến nơi, đổ bộ lên đất liền, họ lập trại an dinh. Các vị chỉ huy đồng ý đặt tên doanh trại nơi này là Phước Thắng” (Huỳnh Minh, Vũng Tàu xưa và nay, Nxb. Cánh Bằng, Sài Gòn, 1970, tr. 22). Thời Gia Long chỉ có tên là “thủ Vũng Tàu”, tên Phước Thắng chỉ có từ Minh Mạng năm thứ 5 (1824).
Từ sự kiện “vua Gia Long phái ba đội quân đến đóng tại Vũng Tàu để chống giặc cướp biển và bảo vệ cửa sông đi vào Sài Gòn”, sách Vũng Tàu xưa và nay đã dắt dẫn đến việc “vua Minh Mạng sắc chiếu ban thưởng phẩm hàm và cho những quân nhân này giải ngũ”. Các ông Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn Huyền đã lập ra 3 làng Thắng Nhứt, Thắng Nhì và Thắng Tam và “được sắc chỉ của nhà vua phong… Ba lá sắc phong thần hiện được thờ một chỗ tại ngôi đình Thắng Tam”. Từ thông tin mà cuốn Vũng Tàu xưa và nay được xem là lần đầu tiên đề cập như trên mà sau này hầu hết sử sách, báo chí địa phương, website quảng bá không kiểm chứng đã dẫn lại tràn lan, làm cho câu chuyện sắc phong “ba ông đội” được mặc nhiên thừa nhận. Du khách tham quan đình Thắng Tam đều được giới thiệu về “ba sắc phong” ấy và tên từng ông đội là “tiền hiền khai khẩn” của ba làng. Trong khi 13 sắc phong hiện đang được lưu giữ tại đình Thắng Tam chỉ duy nhất có một sắc phong dành cho Thần hòang Bổn cảnh thủ Phước Thắng (không phải ba sắc phong cho ba làng). Người dân sinh sống lâu đời ở Vũng Tàu cũng cho biết không có gia phả của dòng họ nào ghi tên ba ông đội ấy. Và không ai biết lăng mộ của họ ở đâu, cúng giỗ thế nào, không lẽ chỉ mới chừng 200 năm mà ngư dân Vũng Tàu đã quên mất những vị tiền hiền khai khẩn thiêng liêng của mình? Trong khi tại thời điểm lập địa bạ vùng đất Vũng Tàu năm 1836 thì Phạm Văn Định là đội trưởng thuyền Thắng Nhất; Lê Văn Lộc là đội trưởng thuyền Thắng Nhì và đội trưởng thuyền Thắng Tam là Trần Văn Cường. Họ là đội trưởng của ba “thuyền” (đơn vị quân sự nhỏ nhất thời Nguyễn). Ký ức dân làng không ghi nhận họ là “tiền hiền khai khẩn”. Ký ức đã bị “định dạng lại” trong du lịch.
Đối với các di tích, chúng ta thường chú ý đến việc trùng tu tôn tạo hay tính nguyên gốc của hình thể, trong khi ký ức gắn với di tích đó (phần phi vật thể) thường bị “định dạng lại” khi giới thiệu với du khách.
Bạch Dinh (Villa Blanche) được xây dựng thời Pháp thuộc (1898-1902), là nơi nghỉ dưỡng của Toàn quyền Paul Doumer và các viên chức cao cấp Pháp, sau là “nơi vua Bảo Đại nghỉ hè”. Từng là không gian quyền lực thuộc địa, mang dấu ấn thực dân rõ nét. Nhưng ký ức du lịch hóa được giới thiệu với giọng điệu trung tính - lãng mạn hóa: “biệt thự cổ sang trọng”, “nơi nghỉ dưỡng mang phong cách Pháp”, “điểm check-in cổ kính”… Ẩn giấu yếu tố thuộc địa, loại bỏ diễn ngôn kháng thực dân hay mối quan hệ quyền lực giữa mẫu quốc - thuộc địa. Nhấn mạnh khía cạnh kiến trúc, cảnh đẹp, trải nghiệm cá nhân hơn là chiều sâu lịch sử - chính trị. Ký ức bị “tẩy sạch lịch sử” để trở thành “sản phẩm du lịch có thể tiêu dùng”.
Các biệt thự cổ, di tích Pháp thuộc, đường phố xưa cũng vậy. Các biệt thự cổ ở đường Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo… từng thuộc sở hữu của tầng lớp tư sản, quan chức Pháp-Việt. Trong ngành du lịch được quảng bá như địa điểm chụp ảnh “châu Âu thu nhỏ”, không kèm theo bất kỳ tư liệu nào về nguồn gốc chủ nhân, giai đoạn sử dụng, các chuyển biến chính trị. Ký ức bị thương mại hóa thành trải nghiệm hình ảnh - thị giác, thay vì là nơi gợi mở suy tư lịch sử.
Tượng Chúa Kitô Núi Nhỏ là biểu tượng tôn giáo, nhưng hiện nay thường được giới thiệu như một điểm ngắm cảnh - leo núi - chụp ảnh check-in, ít nhắc đến chiều sâu tôn giáo hay giá trị tâm linh. Trong một số nội dung quảng bá, không phân biệt giữa giá trị tôn giáo và giá trị giải trí, gây ra sự thương mại hóa không gian thiêng.
“Định dạng lại ký ức” vì mục tiêu du lịch là chỉ giữ lại phần ký ức “an toàn”, “đẹp”, dễ tiếp thị - loại bỏ ký ức đau thương, phức tạp. Di tích bị biến thành nơi check-in, kinh doanh dịch vụ ăn uống, giải trí, làm lu mờ chức năng tưởng niệm. Dựng lại các câu chuyện không có cơ sở lịch sử để hấp dẫn du khách (“nơi vua Bảo Đại từng ở…” dù chưa được xác minh rõ hay câu chuyên về ba ông đội từ nhân vật truyền thuyết thành nhân vật lịch sử)…
“Định dạng lại ký ức” dường như cũng là một đặc điểm của đô thị có những lớp ký ức đan xen, đa tầng…
3. Ký ức lịch sử-văn hoá và bản sắc đô thị biển Vũng Tàu
Khái niệm “đô thị biển” và “đô thị du lịch” là hai cách tiếp cận khác nhau trong nghiên cứu về không gian đô thị. Và với Vũng Tàu, một thành phố ven biển, du lịch phát triển thì sự giao thoa của hai loại hình đó làm nên đặc trưng.
Đô thị biển là một loại hình đô thị được hình thành, phát triển và định hình bởi yếu tố địa lý ven biển, hệ sinh thái biển đóng vai trò quan trọng trong đời sống, kinh tế, văn hoá, môi trường của đô thị đó: gắn chặt với sinh kế biển (đánh bắt, cảng biển, công nghiệp hải sản, dầu khí…); có bản sắc văn hóa biển (tín ngưỡng thờ cá Ông, lễ hội Cầu ngư, thờ Thuỷ long Thần nữ, kiến trúc ven biển, ẩm thực hải sản… Đô thị du lịch là kiểu đô thị có chức năng chính hoặc nổi bật là phục vụ hoạt động du lịch, được quy hoạch, tổ chức không gian và cơ cấu kinh tế-xã hội xoay quanh hoạt động du lịch. Đô thị du lịch có đặc điểm: phụ thuộc vào dòng khách du lịch nội địa và quốc tế, không gian công cộng, kiến trúc, dịch vụ được thiết kế để hấp dẫn khách tham quan…
Giao thoa, đa tầng tạo nên bản sắc
Sự hiện diện của các nhóm cư dân, với hệ ký ức khác nhau khiến cho Vũng Tàu trở thành một không gian đa tầng, nơi bản sắc không đồng nhất mà luôn trong quá trình tương tác, cạnh tranh và dung hoà. Theo đó có thể nhân diện vai trò của ký ức trong việc hình thành bản sắc đô thị biển - đô thị du lịch Vũng Tàu:
|
Ký ức và bản sắc “đô thị biển”
(truyền thống gắn với biển và cộng đồng ngư dân)
|
Ký ức và bản sắc “đô thị du lịch” (chống ngoại xâm và hiện đại hóa, nền tảng của du lịch)
|
|
Ký ức làng chài - ngư nghiệp:
- Nghề cá, đóng tàu, làm nước mắm, các chợ cá ven biển… là hệ sinh thái ký ức nghề nghiệp hình thành nên lối sống biển.
- Các lễ hội như Nghinh Ông, Nghinh Bà, Cầu ngư, Dinh Thắng Tam là biểu hiện sống động của tín ngưỡng biển, góp phần tạo nên ký ức tâm linh biển.
|
Dấu ấn thời kỳ chống ngọai xâm:
- Các công trình như Bạch Dinh, biệt thự cổ, nhà thờ cổ, Hải đăng tạo nên ký ức kiến trúc thuộc địa, được du lịch hóa thành “di sản Pháp”, “Vũng Tàu xưa”.
- Những không gian tôn giáo, tín ngưỡng, tượng đài, các kiến trúc hiện đại hóa thời kỳ sau 1975, được ghi dấu trong ký ức “kiến thiết đất nước”.
|
|
Không gian ký ức biển:
Các địa danh như Bãi Trước, Bãi Sau, Hòn Bà, Bến Đá, Mũi Nghinh Phong, Núi Lớn, Núi Nhỏ mang lớp trầm tích ký ức dân gian, truyền thuyết và kinh nghiệm sống.
|
Ký ức công nghiệp dầu khí và dịch vụ:
Cộng đồng lao động ngành dầu khí và hoạt động dịch vụ du lịch mang đến ký ức của công cuộc phát triển, góp phần xây dựng hình ảnh Vũng Tàu như một đô thị kỹ thuật, mở ra cơ hội kinh tế - cũng trở thành “nét khác biệt” trong tour du lịch trải nghiệm kỹ thuật/ di sản công nghiệp.
|
|
Tác động đến bản sắc đô thị biển:
- Tạo ra bản sắc địa phương đặc thù: Vũng Tàu không chỉ là một thành phố ven biển, mà là một “nơi chốn” với lịch sử - văn hóa biển sâu dày.
- Cung cấp nguyên liệu cho việc tái tạo bản sắc đô thị qua:
. Quy hoạch không gian: giữ lại các làng chài, cảng cá truyền thống như một phần di sản sống (chợ Xóm Lưới, chợ hải sản, cảng Bến Đình)
. Thiết kế đô thị: tượng đài cá voi, kiến trúc hình con thuyền (bảo tàng tỉnh), biểu tượng biển hóa hiện diện khắp nơi (công viên Bãi Sau).
|
Du lịch hoá ký ức - tái định nghĩa bản sắc:
Ký ức được trình diễn lại qua các bảo tàng, lễ hội, tour du lịch:
- Bảo tàng Vũ khí cổ kể lại lịch sử qua lăng kính cá nhân, tạo một kiểu ký ức đặc thù hấp dẫn du khách. Lễ hội Nghinh Ông không chỉ là thực hành tín ngưỡng, mà còn trở thành sản phẩm văn hóa phục vụ du lịch, qua đó định hình “tính bản địa có thể tiêu dùng”.
- Cấu trúc hóa ký ức để tạo bản sắc thị trường:
. Trong marketing du lịch, Vũng Tàu được định vị như “thành phố biển - nghỉ dưỡng - lịch sử”,
. Trong đó ký ức là chất liệu xây dựng thương hiệu đô thị.
|
Tương tác tạo nên bản sắc
Ký ức lịch sử - văn hoá và bản sắc Vũng Tàu có mối quan hệ tương tác, bổ trợ và tái cấu trúc lẫn nhau trong quá trình hình thành, gìn giữ và phát triển đô thị Vũng Tàu. Ký ức lịch sử - văn hoá chính là chất liệu hình thành bản sắc đô thị, từ đó tạo ra sự khác biệt giữa Vũng Tàu và các đô thị biển khác. Ký ức về nghề cá, lễ hội Nghinh Ông, tín ngưỡng biển hình thành bản sắc biển - bản địa, tâm linh, gắn với tự nhiên. Ký ức chống ngoại xâm và hiện đại hóa (di sản kiến trúc, thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng, tượng đài) tạo nên bản sắc đô thị lịch sử - du lịch. Ký ức về lao động dầu khí, công nghiệp hoá, dịch vụ du lịch, kinh tế mở cửa tạo dựng hình ảnh thành phố hiện đại, kỹ thuật, năng động. Có thể nhận diện sự tương tác giữa hai bản sắc: Biển - Du lịch như sau:
|
Khía cạnh
|
Đô thị biển
|
Đô thị du lịch
|
|
Gốc rễ ký ức
|
Truyền thống dân gian, tín ngưỡng, ngư nghiệp
|
Lịch sử chống ngoại xâm, hiện đại hóa, công nghiệp dầu khí, dịch vụ du lịch
|
|
Hình thức hiện diện
|
Lễ hội truyền thống, không gian làng chài
|
Di tích được phục dựng, tour du lịch, bảo tàng
|
|
Động lực chuyển hóa
|
Bảo tồn bản sắc địa phương
|
Tăng trưởng kinh tế, thu hút du khách
|
|
Thách thức
|
Bị lấn át bởi ký ức tiêu dùng (ký ức không còn là phương tiện học hỏi mà chỉ là trải nghiệm tức thời)
|
Thiếu chiều sâu văn hóa nếu không gắn kết với cư dân
|
Như vậy, Vũng Tàu hiện lên như một đô thị có ký ức phân tầng, nơi hai dòng ký ức song song tồn tại, giao thoa và tương tác. Một bên là ký ức của biển, của làng chài, của tín ngưỡng dân gian. Một bên là ký ức của công nghiệp, của khai thác dầu khí, của du lịch và hiện đại hóa. Sự chồng lớp này không chỉ tạo nên bản sắc kép của Vũng Tàu (vừa truyền thống vừa hiện đại), mà còn đặt ra những vấn đề văn hóa đô thị đương đại: Làm sao để ký ức bản địa không bị “xóa mờ”? Làm sao để tạo ra một không gian văn hóa chung giữa hai dòng ký ức? Chính trong sự tương tác (đôi khi mâu thuẫn) giữa các dòng ký ức chính thức (ký ức được lựa chọn bởi ý chí của chính quyền) và ký ức cộng đồng, giữa ký ức sống và ký ức sân khấu hóa, bản sắc đô thị biển của Vũng Tàu mới dần hiện hình…
Trên thực tế hiện nay, Vũng Tàu nổi bật như biểu tượng hiện đại hóa: thành phố dầu khí, thành phố du lịch biển, vùng đất tiên phong của công nghiệp hóa, hiện đại hoá. Các bảo tàng chú trọng đến ngành dầu khí, cuộc sống công nhân, sự hợp tác, đầu tư quốc tế, các công trình kỷ niệm cách mạng. Từ một đô thị chứa đựng những dòng ký ức làm sao để chủ động lựa chọn, sắp xếp và tái hiện ký ức để xây dựng bản sắc. Bởi vì khi các giá trị cũ đang mất dần chỗ đứng trong một không gian đô thị hiện đại thì phải kiến tạo cái mới đủ gốc rễ để trở thành bản sắc.
Tóm lại, ký ức là gốc rễ, bản sắc là cành lá. Không có ký ức lịch sử - văn hoá, Vũng Tàu chỉ còn là một đô thị chức năng; có ký ức, đô thị mới trở thành “nơi chốn” với hồn cốt riêng. Bản sắc Vũng Tàu chính là kết quả của quá trình cộng đồng ghi nhớ, kể lại và gìn giữ các lớp ký ức biển, lịch sử và hiện đại hoá. Ký ức giúp cộng đồng nhận diện chính mình. Ký ức củng cố bản sắc và bản sắc định hướng bảo tồn ký ức. Mỗi khi bản sắc “thành phố biển văn hóa - du lịch” được đề cao thì chính quyền và cộng đồng sẽ chủ động khôi phục, tôn vinh và bảo vệ ký ức đô thị, bảo tồn di sản, phục hồi lễ hội...
Ký ức là trụ cột mềm của bản sắc đô thị Vũng Tàu. Ký ức là chất keo gắn kết giữa quá khứ - hiện tại - tương lai của Vũng Tàu. Trong tiến trình trở thành “thành phố biển du lịch thông minh”, việc bảo tồn và tái tạo ký ức một cách có trách nhiệm (không thương mại hóa thái quá, không loại trừ ký ức cộng đồng yếu thế) là chìa khóa để đảm bảo tính bền vững về văn hóa, tạo khác biệt cạnh tranh trong du lịch và gìn giữ bản sắc độc đáo của đô thị ven biển này.
Ký ức Vũng Tàu là một đề tài sâu rộng. Nếu có điều kiện để điều tra xã hội học chắc chắn kết quả sẽ rất sinh động. Hy vọng sẽ có người nhận chân lợi ích, tiếp tục đầu tư nghiên cứu toàn diện hơn, sâu hơn để trước hết là phác thảo một chân dung cộng đồng, ghi dấu một chặng đường phát triển với những đặc trưng “rất Vũng Tàu” (cho hậu thế biết) và sau nữa để phục vụ phát triển cộng đồng và xây dựng Vũng Tàu thành trung tâm du lịch chất lượng cao.