Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
30.459 tác phẩm
2.720 tác giả
1.646
141.623.505
 
Và tôi mắc nợ*
Võ Anh Cương

 

 

         Tiếng xình xịch lúc xe lửa chạy lên dốc bằng đường ray răng cưa được kéo bởi một đầu máy hơi nước khiến Bình tỉnh ngủ hẳn. Chú nhỏ nhìn ra ngoài, chú không nhìn thấy gì ngoài những tàn lửa tung tóe trước mặt. Bình hơi sợ, chú ngồi sát vào người đàn ông bên cạnh:

- Bác ơi sao tối quá vậy bác?

Người đàn ông nói:

- Con dậy rồi à? Xe lửa đang qua hầm nên tối vậy đó!

Nói xong ông Bảy đứng dậy kiểm tra chiếc va lít gỗ để trên ngăn hành lý. Ông nghĩ trong đầu những lúc như thế này là lúc kẻ trộm ra tay, mà chiếc va lít gỗ là cả gia tài của hai bác cháu, ông không thể để mất được. Còn Bình, khi nghe bác Bảy giải thích, chú nhỏ thấy yên tâm và im lặng ngắm những tàn lửa tạo thành những đám hoa cà hoa cải từ vách hầm bắn vào toa. Ông Bảy ngồi xuống, ông kiểm tra giấy tờ và tiền bạc ông giấu trong một cái túi lận trong lưng quần, tất cả còn nguyên. Lúc nãy ông lơ mơ ngủ, khi tỉnh giấc là lúc xe lửa hú một hồi còi dài báo hiệu bắt đầu vào hầm từ Cầu Đất đến Trạm Hành. Cẩn thận vẫn hơn, đến một vùng đất lạ mà giấy tờ tiền bạc không có thì không biết tính làm sao?

Xe lửa đến ga Đà Lạt, Bình mở to mắt ra nhìn, chú nhỏ choáng ngợp bởi khối kiến trúc to lớn đẹp đến mê tơi! Đó là những cảm xúc rất thật của chú, Bình nhìn không chớp vào ba cái đỉnh của nhà ga, trong đầu Bình liên tưởng đến những đỉnh núi phía xa xa. Ông Bảy dẫn Bình ra một góc sân ga, ông hỏi người xà ích đang ngồi trên một chiếc xe ngựa có về Suối Cát không, ông xà ích gật đầu, ông Bảy kéo Bình lên xe. Người xà ích vung roi lên, con ngựa to khỏe hí một tràng dài rồi cất vó. Tiếng lóc cóc của móng sắt chân ngựa gõ xuống mặt đường hòa trong câu chuyện râm rang của những hành khách cứ y như những chuyến xe thổ mộ ngoài quê. Một bà lên tàu ở ga Tháp Chàm ngồi cùng toa với bác cháu ông Bảy hỏi:

- Chú về đâu?

Ông Bảy trả lời bằng một giọng rất chân quê:

- Tui về Suối Cát thím à, còn thím về đâu?

- Tui cũng về Suối Cát, mà tui hỏi khi không phải, chú tìm nhà ai ở đó, nghe giọng chú tui biết chú ở ngoài Quảng vô, đúng không?

- Thím à, thím nói đúng, tui nhận được cái “giây thép” (điện tín) của ông anh nên dẫn thằng cháu vô trong này kiếm việc làm, nếu ổn nhà tui vô sau. Thím biết ông Tư An không?

- Tư An, phải Tư An cao cao, đen đen, người Điện Bàn không?

Mắt ông Bảy sáng lên:

- Dạ đúng, ổng là anh thứ tư còn tui thứ bảy tên Bảy Thừa, thằng Bình đây con chú út, tới đó là hết nên kêu là Út Hết!

Nãy giờ hành khách trên xe im lặng nghe hai người nói chuyện, nghe ông Bảy nói vậy, họ cười vang khiến một bầy sáo sậu đang đậu ven đường hoảng sợ bay vụt lên. Một hồ nước trong xanh, những hàng cây và mấy ngọn đồi lúp xúp phản chiếu dưới đáy nước hiện ra trước mắt Bình. Bình nhìn qua bên kia hồ, một chiếc xe hơi đang chạy trên đường, vài người khách bộ hành đang thả bước, cảnh đẹp như một bức tranh. Nắng vàng xiên qua tán những ngọn thông, Bình thoạt nhìn cứ tưởng có vô vàn những con công đang đậu trên cây, đẹp đến sững sờ! Ông Tư An đón bác cháu ông Bảy với nụ cười hết cỡ:

- Vô đi, đây là nhà tui thuê, mai chú đi làm liền được không?

- Làm cái chi anh?

- Thì làm cu li xây nhà cho nhà thầu khoán Võ Đình Dung!

Ông Bảy cười tươi mặt giãn ra, vô vùng đất lạ mà có việc làm ngay là tốt quá rồi. Lúc đó Bình đang ngắm cái áo màu cứt ngựa to lớn dầy cui treo trên tường nhà. Ông Tư thấy vậy nói liền:

- Cái áo ba đờ xuy của lính Pháp bác xin được, cháu thấy lạ lắm phải không? Trên này trời lạnh lắm, nhất là mùa đông, có cái áo này thì không lo gì hết!

Cái lạnh theo sát Bình ngay sau đó, chú nhỏ hồi giờ mới biết thế nào là lạnh, ngồi trong nhà mà gió lùa vô kẽ ván đã lạnh run thì ra ngoài chắc là chết mất, Bình nghĩ. Vậy mà cái lạnh không làm chú nhỏ chết, ngay ngày hôm sau, Bình đi làm cu li với bác Bảy và bác Tư, thân phong phanh áo mỏng.

Mấy năm trôi qua, Bình bây giờ đã là một chàng trai cao lớn, anh đã trở thành thợ xây chính của nhà thầu khoán Võ Đình Dung, còn hai ông bác của anh một người là cu li một người làm bồi ở ô ten Palace. Bình lấy vợ, vợ Bình chính là con út bà Huế, người buôn cá khô từ Phan Rang mà ngày đầu đặt chân đến Đà Lạt bác cháu Bình gặp. Bữa đó ông Tư An nhắn Bình qua xóm trọ ông có việc cần bàn, gặp cháu ông Tư An nói liền:

- Hai bác tính về lại quê, con coi giờ không có công chuyện làm, ở đây sao được, còn con tính sao?

Bình ưu tư nhìn xuống ly chè xanh bác Tư rót còn đang bốc khói và nói:

- Con cũng chưa biết tính sao, bác coi, từ ngày cướp chính quyền đến giờ cũng đã mấy năm rồi việc xây dựng dừng lại hết, con cũng đang thất nghiệp, may mà có vợ con buôn bán ngoài chợ chớ cũng không biết tính sao?

Nói đến đó Bình nhớ ngày 23 tháng 8 năm 1945, hàng vạn người dân Đà Lạt nổi lên cướp chính quyền từ tay phát xít Nhật. Bình và hai ông bác tham gia vô dòng người kéo về dinh tỉnh trưởng, buộc ông tỉnh trưởng Ưng An giao ấn tín, sao mà hào hùng quá. Lúc đó Bình được cử vào đội thanh niên tự vệ, anh tìm được một cây kiếm Nhật đeo nó bên hông coi bộ cũng oai lắm. Còn ông Tư và ông Bảy giơ nắm đấm hô to khẩu hiệu ủng hộ Mặt trận Việt Minh đả đảo thực dân phong kiến…. Giờ nghe ông bác bàn chuyện về quê, Bình thấy trong lòng không ổn, Bình nói:

- Hay là như vầy, con thấy thời cuộc bây giờ đã khác, mình không làm nghề xây dựng được thì làm vườn, trồng rau hai bác thấy được không?

​Cũng nhờ ông Võ Đình Dung mà bác Bảy sang được đất làm vườn ở ấp Cao Bá Quát khu phố 3, còn bác Tư nhứt định về quê. Đó là một thung lũng có một con suối nhỏ chảy qua, nước không nhiều nhưng cũng đủ dùng cho những mảnh vườn hai bên bờ suối. Ông Bảy chăm chỉ trồng la ghim, sáng sớm ông thức dậy lúc 5 giờ, lấy đôi thùng tưới rồi hì hục gánh nước tưới rau. Vừa làm ông vừa thầm phục mấy người thợ hàn chế ra đôi thùng tưới. Đó là một đôi thùng hình tròn được hàn bằng miếng tôn phẳng, miệng thùng được người thợ hàn kín một nửa và đóng một cái thanh gỗ có hai cái khoen sắt ở hai đầu. Xoa tưới đục nhiều lỗ nhỏ được gắn vào đầu một cái ống rỗng ruột hàn dính với thùng nước phía gần đáy. Hai đầu đòn gánh được gắn một đoạn sắt chữ U, ở giữa là cái đùm xe đạp, một đoạn xích xe đạp có hai cái móc luồn vào đùm xe rồi móc vào hai cái khoen thùng tưới, nhờ vậy đôi thùng tưới di động dễ dàng. Ông Bảy xuống suối múc nước, hai tay ông vịn vào thanh gỗ để giữ cân bằng. Đến luống rau ông chúc đôi thùng xuống, vừa tưới ông Bảy vừa chạy để nước ướt đều cả luống rau.

 

​Con suối chảy qua ấp Cao Bá Quát ít nước, ông Bảy muốn trồng thêm rau vào mùa nắng nhưng đành chịu, ông bà nói có sai đâu, nhất nước nhì phân mà. Quả đúng vậy, thứ phân cá Phan Thiết trồng rau tốt thiệt, ông nghĩ, nhưng dòng suối nhỏ chỉ đủ nước cho những vạt đất hai bên. Cùng với mấy người khác, ông Bảy làm đơn xin khai khẩn đất hoang để làm vườn. Cũng không xa xôi gì, ông xin nhà cầm quyền cho khai khẩn đất dưới đường Vòng Lâm Viên thuộc ấp Nguyễn Siêu, khu phố 3. Ông tính giao miếng vườn ở ấp Cao Bá Quát cho bà Bảy và mấy đứa con, còn ông sẽ ra làm vườn ở ấp Nguyễn Siêu….

​Bình không theo ông Bảy về ấp Cao Bá Quát làm vườn. Vợ Bình là dân Quảng Điền, Thừa Thiên Huế chính gốc, cô theo ba mạ vô Đà Lạt, giờ lấy chồng và buôn bán ở chợ. Người Huế vô Đà Lạt sinh cơ lập nghiệp ngày càng nhiều, họ tụ lại thành cư dân ấp Ánh Sáng. Vợ Bình xin với ông chú họ một miếng đất gần suối dưới chân đập hồ Xuân Hương, hai vợ chồng làm một giàn su su, dưới giàn là một cái chòi nhỏ, trống trước hở sau. Sáng sáng vợ Bình hái su su vườn nhà mang ra chợ Cây bày lên sạp cùng với những loại rau tươi cô mua của những người làm vườn gánh ra chợ bán từ mấy ấp Cao Bá Quát, Nguyễn Siêu, Phước Thành, Bạch Đằng…. Bình sắm một chiếc xe ngựa và trở thành một xà ích chở rau, hoa và bất kể thứ gì người ta thuê. Hai đứa con ra đời dưới giàn su su, một tay Bình làm bà đỡ, cũng may mẹ tròn con vuông. Lúc rảnh, Bình theo ông Thìn, người làng Kế Môn học may. Người Kế Môn chuyên làm nghề vàng bạc, ông Thìn kể, dân làng Kế Môn đi tản cư năm 45, 46, họ gánh đôi thúng bên trên để những vật cần thiết bên dưới là vàng. Bình hỏi ông Thìn sao chú không học nghề vàng mà theo nghề may? Ông già cười nói làm nghề gì cũng có Tổ, chú không hạp với nghề phân kim mà lại thích nghề may nên theo nghề từ hồi còn nhỏ. Cháu ráng lên, tau coi mi cũng có hoa tay đó, chà cái bàn tay ni tài hoa làm chi cũng được. Tài hoa, Bình chưa bao giờ nghĩ đến, anh chỉ cố gắng trong tất cả công việc. Người ta làm được thì mình cũng làm được, làm không xong một lần thì làm chục lần cũng phải xong, không lẽ mình thua họ? Đúng vậy, bằng chiếc máy may Singer của ông Thìn, những lúc rảnh Bình may quần áo thuê cho bà con ấp Ánh Sáng, thỉnh thoảng người từ Thái Phiên cũng mang vải lên tiệm ông Thìn đặt may, chưa thấy ai chê Bình may vụng cả!

​Xuyên qua ấp Ánh Sáng là hai con đường chạy song song với nhau, hai dẫy nhà cất dọc theo hai con đường, mỗi nhà chiếm một khoảnh đất nhìn xuống vườn rau có con suối nhỏ bắt nguồn từ cửa đập dưới cầu ông Đạo, lưng nhà tựa vào đồi, bên trên có con đường chạy ngang qua rạp hát Ngọc Lan dẫn ra khu Hòa Bình. Ông Thìn kêu vợ chồng Bình bỏ cái chòi gần suối lên trên đường mà ở, ông nhượng lại cho chục mét đất làm nhà. Bữa đó khi nhà xây xong, vợ chồng Bình làm một mâm cơm xin rước ông bà về thờ và mời bác Bảy, chú Thìn, bà con lối xóm tới dự. Cơm rượu no say, ông Mễ ấp trưởng nói:

​- Vợ chồng Bình nè, con vợ mi là người Huế tau không nói, còn mi là người Quảng mà biết cư xử như ri là đúng người Huế miềng rồi, để tau xin với người làng cho vợ chồng mi dự tế xuân thu nhị kỳ làng Phước Yên, Quảng Điền từ năm ni, thứ tư tuần sau mi đi dự tế thu, hỉ. Còn tế xuân hàng năm tổ chức trúng ngày 20 tháng giêng tại đình ấp Thái Phiên, sang năm nhớ lấy ngày mà đi để khỏi quên quê hương xứ sở!

​Bình cám ơn ông Mễ, trong bụng Bình nghĩ Quảng với Huế cũng đâu có xa gì? Mà vợ Bình người Quảng Điền thì mình là con rể cũng đủ tư cách chớ có phải đâu là người dưng! Vậy mà năm sau đi dự tế xuân lại thay đổi cuộc sống của Bình. Số là trong lễ tế, Bình quen một người làng Phước Yên có một tiệm may trên đường Minh Mạng đang cần thợ. Biết Bình là học trò ông Thìn, ông Đoàn rủ ngay:

​- Chú ra tiệm tui làm đi, tui trả công đàng hoàng tùy theo công việc chú làm.

​Vậy là Bình trở thành thợ may thứ thiệt ở một tiệm may lớn, ngày đầu tiên đi làm có một ông khách đóng một bộ com lê, ông Đoàn thử tay nghề của Bình bằng cách kêu Bình đo cho vị khách. Nhìn cách Bình làm, ông Đoàn bằng lòng lắm và ông không đắn đo chút nào khi biểu Bình cắt may bộ quần áo cho ông khách quen là một ông giáo sư dạy ở trường Bảo Long (sau này là trường Trần Hưng Đạo). Từ ngày làm cho tiệm may Văn Đoàn, gia cảnh Bình khá hơn hẳn. Hai đứa con theo nhau vô học trường Đoàn Thị Điểm, Bình cố làm để đủ tiền nuôi con ăn học. Vậy mà cuộc sống ổn định đó không kéo dài được lâu, một hôm ông Bình được mời lên đồn cảnh sát. Tay cảnh sát đeo kính đen tra hỏi ông Bình về những việc làm từ ngày chín năm kháng chiến đến nay. Trào ông Diệm đang bắt đầu, chính quyền đang nằm trong tay những người mà họ tự nhận là người quốc gia, chống cộng triệt để. Ông Bình bình tĩnh đối đáp với tay mật vụ, y không đưa được bằng chứng buộc phải thả ông Bình về. Ông Bình biết mình đang có tên trong sổ đen, ông mà làm việc gì cũng bị theo dõi hết. Một tay cảnh sát chìm với chiếc kính đen thường lảng vảng trước tiệm may Văn Đoàn, chắc là để theo dõi mình, ông Bình nghĩ. Lúc ông Bình đi bộ về nhà, trời chập choạng tối, ngọn đèn đường vàng vọt đã bật lên, tới đầu dốc ông Bình quay ngược lại, ông bắt gặp ngay tên mật vụ lúc này không còn đeo kính lúng túng tránh cặp mắt của ông. Kiểu này thì không làm ăn chi được rồi, ông Bình phải tính lại công chuyện dù lòng ông rất tiếc gần tám năm theo nghề, nhưng cứ bị theo dõi hoài ai mà chịu được? Lúc đó là năm một ngàn chín trăm sáu mươi hai.

 

​Hơn mười năm làm vườn ở ấp Nguyễn Siêu, ông Bảy đã cất được ngôi nhà bằng những viên ất lô tự tay ông đúc. Miếng vườn ở ấp Cao Bá Quát ông Bảy để lại cho ông Ba Bủng. Từ dưới suối, ông Bảy mở đất thành từng băng lên đến con đường sau nhà là một nhánh nhỏ rẽ từ con đường Vòng Lâm Viên chạy ngang sườn một quả đồi. Trên đồi ông Bảy trồng khoai lang, khoai lang ông Bảy và bà con trồng bằng cách độn thân lá cây quỳ tươi vào giữa vồng vậy mà tốt lạ lùng, màu củ đỏ au suôn dài, ruột vàng như lòng đỏ trứng gà nhìn là thích mắt. Là dân xứ Quảng, ông Bảy bao giờ cũng lo xa, mùa nắng khi giở khoai ông bà Bảy huy động đám con xắt lát phơi khô phòng khi đói kém. Bán xong một lứa rau, bà Bảy bao giờ cũng ưu tiên mua tạ gạo, còn thức ăn thì mắm muối rau cỏ qua ngày. Cái thứ cá nục là món mặn thường xuyên của nhà bà Bảy, hết chiên lại kho với dưa cãi. Cá nục mà kho với thứ nước mắm chứa trong những cái tỉn đất bên ngoài có lớp vôi màu trắng chở lên từ Phan Thiết mới đậm đà làm sao! Ông Bảy đang ngồi nghỉ trong nhà, ông đang nhớ lại chuyện đã qua thì ông Bình đến, ông ngạc nhiên nhìn cháu, ông Bình đặt lên bàn chục cam sành:

​- Con chào bác, vợ chồng con có chục cam gởi bác uống nước, hôm nay con lên thưa với bác một chuyện!

​- Chuyện gì, bay bày vẽ làm gì cho tốn kém, lên thăm bác là được rồi.

​Ông Bình kể chuyện cảnh sát chìm theo dõi mình và hỏi ý kiến ông bác phải làm gì? Trầm ngâm một hồi, ông Bảy nói:

​- Tụi nó đã theo dõi con thì khó rồi, thôi con bỏ nghề may quay qua làm vườn đi. Bà con trên này đang bàn nhau tìm đất mới, chỗ này vậy mà mùa nắng cũng không đủ nước, bây giờ người ta trồng rau nhiều hơn lúc trước!

​Vùng đất được người ấp Nguyễn Siêu chọn cạnh Thung lũng Tình yêu trước kia Ty Canh nông trồng thử nghiệm lúa nước nhưng không thành công. Đất mới gồm ba thung lũng nối tiếp nhau tạo thành hình chữ Y, hai con suối cùng tụ về một chỗ, nhập dòng và chảy về hướng Suối Vàng. Nước trong xanh, hai bên bờ suối lau sậy mọc chen dầy, từng bầy cá lòng tong tung tăng bơi lội bên những hòn cuội trắng phau. Đi thăm vùng đất mới, ông Bình vừa lòng lắm, ông bàn với ông Mười Lễ, ông Tư Sún, ông Sáu Gieo họp bà con làm đơn xin nhà cầm quyền khai khẩn đất làm vườn và thương lượng với người Thượng nhượng đất “của ông bà để lại” cho bà con ấp Nguyễn Siêu. Hôm làm giấy, bà Ka Rí đại diện cho dòng tộc ở xã Lat điểm chỉ trên giấy nhượng đất. Đó là người đàn bà cao lớn trên tám mươi tuổi, da dẻ nhăn nheo màu đồng hun, đôi dái tai đã đứt nhưng trông còn tráng kiện lắm. Bà hút thuốc và uống la de Larue do dân ấp mời rồi nói:

​- Cái thứ nước này mình không thích, không bằng rượu cần của đồng bào!

​Ông Bình bốc thăm được một khoảnh đất chiều ngang hai mươi lăm mét, từ dưới suối cho tới đỉnh đồi tha hồ mở đất, chừng nào hết sức thì thôi. Ông Bình qua ấp Hà Đông và Nghệ Tĩnh học nghề trồng bông, ông không trồng rau như những người khác. Làm vườn, ông phải học lại từ đầu. Người bạn cũ hồi làm nghề xây dựng giờ cũng làm vườn giúp ông Bình hột giống bông cúc Nhật, cái thứ bông này dễ trồng chỉ ba tháng là ra hoa. Những chùm hoa màu trắng, màu đỏ, màu tím nở rực trong nắng vàng tháng chạp. Đó là lứa bông cúc đón tết, cái tết Quý Mão năm một ngàn chín trăm sáu mươi ba, nhà ông Bình ăn tết ở vùng đất mới. Tết nhất mà cắm một bình bông cúc cúng ông bà càng làm cho tấm lòng hướng về tổ tiên thành kính hơn, ông Bình nghĩ. Ra giêng ông Bình trồng bông ô dê, sau sáu tháng ô dê ra hoa ông Bình cắt rồi bó thành từng bó năm chục bông đem bỏ mối cho bà Bảy Bông ở chợ Đà Lạt.

 

​Năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm chiến tranh chấm dứt, ông Bình thở phào nhẹ nhõm. Trở về ấp Ánh Sáng, căn nhà của ông cho thuê còn đó nhưng hai con đường song song giờ nhà cửa mọc chen dầy. Ấp Ánh Sáng bây giờ bà con buôn bán, làm dịch vụ tấp nập hơn hẳn ngày xưa. Ông Bình vẫn tiếp tục làm vườn, ông bán nhà cho cháu ông Thìn, dường như ông không còn hợp với cuộc sống ở chợ. Cuộc sống sau chiến tranh ngày càng khó khăn, công việc trồng hoa của ông Bình coi như lạc điệu. Ông Bình quay qua trồng rau, làm một giàn su su giống y như thời ông vừa cưới vợ và dọn về ấp Ánh Sáng ở. Rồi phong trào tập thể hóa nông nghiệp, xây dựng tập đoàn, là cơ sở cách mạng, ông Bình phải làm gương vô tập đoàn trước, mới tháng đầu đi làm tập thể ông thấy cứ làm ăn theo kẻng, cha chung không ai khóc thì làm sao khá được? Đã có lúc ông Bình định đi kinh tế mới làm ruộng, nhưng ngẫm đi nghĩ lại thấy tuổi tác cũng đã lớn, ông chắc không còn sức để mà làm lại từ đầu.

​….

***

​Đà Lạt sắp kỷ niệm 120 năm từ ngày ông bác sĩ Yersin khám phá vùng đất cao nguyên và đề nghị với ông Toàn quyền Pháp thời ấy cho thành lập thành phố sau này người trong cả nước gọi bằng những cái tên rất ấn tượng: thành phố trong rừng, thành phố mộng mơ, thành phố sương mù, thành phố ngàn hoa….Dịp này Hội văn học nghệ thuật tỉnh và ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt tổ chức trại sáng tác viết về đất và người Đà Lạt, tôi là một trại viên. Trong lúc đi tìm tư liệu, tôi gặp anh Mạo là con trưởng của ông Bình. Anh Mạo trước là Chánh Thanh tra một Sở, nay về hưu anh mở một công ty nho nhỏ chuyên về in ấn. Tôi cũng từng làm ngành in, quen anh và được anh giúp đỡ trong vài việc, nay gặp lại tôi mừng quá. Tôi mời anh vô một quán cà phê ven đường uống vài lon bia tâm sự. Biết tôi đang muốn viết về Đà Lạt, anh Mạo bèn kể chuyện nhà mình, từ ngày ba anh đặt chân đến đất Hoàng triều cương thổ cho tới nay thằng Hiệu con anh đã lấy vợ, như vậy tính được ba đời. Ba đời ở một vùng đất mới cũng đủ để lập nên một dòng họ, thằng Hiệu giờ có thể tự hào là người Đà Lạt! Trưa hôm đó tôi theo anh Mạo về nhà xin gặp ba anh và ráng ghi chép lại những gì bác Bình kể trong bảy mươi sáu năm trời ông ở Đà Lạt về thêm thắt đôi chút tôi viết thành cái truyện ngắn dỡ dang này, một cái truyện còn chưa biết kết ra sao. Đó chỉ là phát thảo chân dung của một người Đà Lạt rất bình thường, có chỗ tôi viết còn rất sơ sài chắc là chưa lột tả hết những nhọc nhằn của một đời người, nhưng biết làm sao được?

​Trước khi ra về, bác Bình nắm tay tôi rồi nói:

​- Chú à, tui chỉ kể cho chú nghe chừng đó thôi, thời sau khi rã tập đoàn tui làm vườn thêm một thời gian nữa rồi nghỉ. Khi tui vô Đà Lạt, tui nghĩ chắc chừng một hai năm rồi sẽ về lại quê, ai dè lại ở hẳn đất này. Tui tính sang năm kêu thằng Mạo về quê đưa cốt của ông bà nội nó vô Đà Lạt để tiện bề hương khói. Tui ước chi còn sức khỏe để phụ với vợ chồng thằng Khê là em thằng Mạo trong việc trồng bông, nhưng nghe hắn nói tui thấy chắc là mình làm không được, giờ tụi hắn áp dụng khoa học kỹ thuật, cây hoa trăm sắc làm sao tui theo cho được?

​Anh Mạo nói thêm:

​- Thằng em tôi mở công ty Hoa Rừng, nếu anh thích hôm nào tôi đưa anh vô thăm công ty hắn, biết đâu anh sẽ có thêm tư liệu để viết được một bài bút ký?

​Công ty Hoa Rừng tôi biết. Đó là một công ty chuyên doanh hoa Đà Lạt rất thành công trong việc trồng hoa và nhất là xuất khẩu giống hoa ra nhiều nước trên thế giới. Như vậy tâm nguyện của bác Bình đã được con bác tiếp nối, chắc bác rất hài lòng? Tối hôm đó tôi viết một lèo cái truyện ngắn này, lúc viết không ra chữ nữa tôi nhớ đến bài thơ “Và tôi mắc nợ” của nhà thơ Nguyễn Tấn On, tôi mang ra đọc.

​Gió mưa mắc nợ/ những người gánh mùa/ từ thung lũng sâu/ leo lên dốc núi/…/Và tôi mắc nợ/ tiếng cười của hoa/ một bản trường ca/ trong đất có muối**….Bài thơ này tôi xin bản thảo của anh On lúc dự trại, anh On dặn với theo “tôi còn chỉnh sửa nữa!”. Anh On mắc nợ những người làm vườn, tôi chia sẻ với anh tâm tình đó, bác Bình mà đọc được bài thơ của anh On chắc là thích lắm.  

​Mấy hôm sau tôi gặp anh Mạo ở quán cà phê, anh hỏi thăm tôi đã viết chuyện ông già anh đến đâu rồi? Tôi trả lời em đang viết nhưng còn chỉnh sửa, anh nói:

​- Ông già tôi nói không biết bạn con biểu ba kể chuyện hồi xưa để làm gì, chuyện của ba chỉ có đổ mồ hôi thôi, so với những người đổ cả máu thì thấm tháp gì? Tôi hỏi ai đổ máu hả ba, ông già trả lời như vụ thực dân Pháp mang 19 người ra xử bắn sau khi đội cảm tử Phan Như Thạch thi hành án tử hình tên phó thanh tra mật thám Haasz năm 1951, chỉ có một người sống sót là bà Lan!

​Tôi giật mình, bác Bình nói đúng. Mồ hôi và máu, hai thứ đó đều có vị mặn và đồng hành với nhau từ thuở tổ tiên ta dựng nước tới giờ. Tôi sẽ xóa bài viết lại.

Và tôi mắc nợ, như Nguyễn Tấn On!

 

3/10/2013

*Tựa một bài thơ của Nguyễn Tấn On đăng trên tạp chí Lang Bian số 122 tháng 9/2013.

** Trích bài thơ “Và tôi mắc nợ” của nhà thơ Nguyễn Tấn On

 

Võ Anh Cương
Số lần đọc: 709
Ngày đăng: 21.06.2025
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Thủy Tiên buồn (phần cuối) - Đỗ Nguyễn
Một tấm lòng cao cả  - Nguyễn Vĩnh Căn
Trần gian chẳng của riêng ai - Hoàng Xuân Hoạ
Người mặc áo số không - Hoàng Xuân Hoạ
Bà Trương - Đỗ Nhựt Thư
Cạm bẫy bọc đường - Hoàng Thị Bích Hà
Thủy Tiên buồn. - Đỗ Nguyễn
Sun, Đê bắt chuồn chuồn - Thanh Phương
Thánh y chứng giám - Nguyễn Anh Tuấn
Giọt lệ sau bức tranh cổ - Võ Chí Nhất
Cùng một tác giả
Hồng Mây (truyện ngắn)
Về xứ sương giăng (truyện ngắn)
Hàm Luông (truyện ngắn)
Thung lũng tình yêu (truyện ngắn)
Ma xó núi (truyện ngắn)
Hai ốm (truyện ngắn)
Sương khói quê nhà (truyện ngắn)
Và tôi mắc nợ* (truyện ngắn)